Tại Sao Tia Sáng Online Bị Đình Bản?

05/11/2009

arton9188-1b612Trang điện tử Tia Sáng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đã bị nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam buộc phải đình bản hôm 27 tháng 10 năm 2009, sau 8 năm hoạt động. Trang điện tử Tia Sáng là một phần của Tạp Chí Tia Sáng do bà Hoàng Thị Thu Hà phụ trách, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thứ trưởng bộ Khoa học và Công nghệ Lê Đình Tiến. Ông Lê Đình Tiến đưọc coi là nhân vật số 2, đứng sau Bộ trưởng Hoàng Văn Phong trong Bộ khoa học và Công nghệ. Theo tin tức thì trang điện tử Tia Sáng Online bị đình bản là do những xung đột gay gắt trong thượng tầng lãnh đạo của Bộ khoa học và Công nghệ, kể từ khi Viện Nghiên Cứu Phát Triển (IDS) tuyên bố tự giải thể để phản đối Quyết Định 97 do ông Nguyễn Tấn Dũng ký nhằm ngăn chận sự phản luận công khai của giới trí thức đối với đường lối, chính sách của nhà nước Cộng sản Việt Nam.

Trong sự phân nhiệm của Bộ khoa học và Công nghệ thì ông Hoàng Văn Phong, Bộ trưởng chỉ phụ trách việc điều phối những công việc mang tính chiến lược, theo dõi và xây dựng các kế hoạch lớn. Thứ trưởng Lê Đình Tiến được phân chia trách nhiệm liên quan đến việc soạn thảo các văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách khoa học & kỹ thuật. Nói cách khác, ông Hoàng Văn Phong chỉ lãnh đạo tổng quát, trong khi ông Lê Đình Tiến mới nắm thực quyền, điều hành những bộ phận khoa học ở bên trong. Chính Thứ Trưởng Lê Đình Tiến là người đã bật đèn xanh cho Tia Sáng Online đăng tải những bài viết phê phán về tình hình tụt hậu của nền khoa học Việt Nam của một số trí thức, từ năm 2004 đến nay. Đặc biệt gần đây, Tia Sáng Online đã tích cực đăng tải một số bài viết của những học giả nằm trong Viện nghiên cứu phát triển (IDS) như Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Giáo sư, Phạm Duy Hiển, Nhà văn Nguyên Ngọc, Giáo sư Hoàng Tuỵ, Giáo sư Chu Hảo v. v…

Tạp Chí Tia Sáng Online có một chỗ đứng đặc biệt. Nó được hầu hết giới trí thức khen là tạp chí “liều mạng” chuyên loan tải những nội dung mang tính phê bình các chính sách công nghệ của Hà Nội. Vì thế mà Tia Sáng Online đã bị ban Tuyên Giáo Trung ương đảng để ý và nhiều lần khuyến cáo ban biên tập phải ngưng không loan tải những bài phê bình chính sách của đảng. Do đó việc Tia Sáng Online bị đình bản hôm 27 tháng 10 không phải là điều ngạc nhiên đối với dư luận. Tuy nhiên, việc đình bản này đã cho thấy sự xung đột ngày một trầm trọng trong nội bộ lãnh đạo Hà Nội về chính sách đối với thành phần chuyên gia và trí thức.

Thật vậy, tại Hội nghị Trung ương đảng lần thứ 7 khóa X từ ngày 9 đến 17 tháng 7 năm 2009, đảng Cộng sản Việt Nam chính thức ra Nghị quyết coi việc xây dựng thành phần trí thức là một nhiệm vụ quan trọng để đẩy mạnh thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Nghị quyết này còn vạch ra chỉ tiêu là đến năm 2020, Việt Nam có một đội ngũ trí thức có chất lượng cao, số lượng đông và có tầm vóc quốc tế, thì phải ban hành quy chế dân chủ trong hoạt động khoa học, giáo dục và đào tạo. Đặc biệt là đảng sẽ phê phán và xóa bỏ sự coi nhẹ, thành kiến và quy chụp đối với những ý kiến phản biện mang tính xây dựng, đồng thời đề cao trách nhiệm của trí thức, củng cố và nâng cao chất lượng các hội trí thức… Chính những quy định mang tính đề cao vai trò trí thức nói trên, Báo Tia Sáng, Tia Sáng Online của Bộ Khoa học và Công nghệ đã mở rộng những phản biện thẳng thắn của giới trí thức về các chính sách chung. Tuy nhiên, trong thực tế, đảng Cộng sản Việt Nam đã làm khác đi những gì mà họ đã quyết định trong Nghị Quyết nói trên.

Thứ nhất là thay vì để cho Bộ Khoa học và Công nghệ soạn thảo một văn kiện quy định về sự đóng góp của giới trí thức, chuyên gia như Nghị Quyết của đảng đưa ra, ông Nguyễn Tấn Dũng lại giao cho Bộ tư pháp soạn thảo Quyết Định 97 nhằm: 1/ Giới hạn lãnh vực nghiên cứu của giới trí thức; 2/ Cấm không cho phản biện công khai mà mọi ý kiến phải nộp cho những cơ quan liên hệ. Chính Quyết Định 97 đã là đầu mối dẫn đến sự phẫn nộ của giới trí thức và khiến cho 16 trí thức sáng lập ra Viện Nghiên Cứu Phát Triển (IDS) tuyên bố tự giải thể để phản đối quyết định này.

Thứ hai là trong nội bộ của Bộ Khoa học và Công nghệ đã có những bất đồng về nội dung ghi trong Quyết Định 97 vì cho là không phản ảnh tinh thần dân chủ mà Nghị quyết của Trung ương đảng đưa ra trong việc xây dựng đội ngũ trí thức. Do sự bất phục này mà một số chuyên gia làm việc trong những đơn vị chuyên môn như cục năng lượng nguyên tử, cục an toàn bức xạ và hạt nhân, Quỹ phát triển khoa học và Công nghệ quốc gia, tạp chí hoạt động khoa học, tạp chí Tia Sáng, báo Khoa học và phát triển đã có những chống đối ngầm. Trong các đơn vị phản đối này, Tia Sáng Online, dưới dù của Thứ Trưởng Lê Đình Tiến, tiếp tục đăng tải những bài viết của một số nhân vật chống đối của Viện IDS, nên vì thế mà bị ông Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh ngưng.

Tia Sáng Online bị đình bản là hệ quả của Quyết Định 97 và sự xung đột trên thượng tầng của Bộ Khoa học và Công nghệ. Điều này cho thấy là lãnh đạo Hà Nội không tin vào giới trí thức, và Nghị Quyết của Trung ương đảng về việc xây dựng đội ngũ trí thức chỉ là một trò xảo thuật để khai thác giới trí thức tin vào chế độ.

Qua một số diễn biến nói trên, lãnh đạo Hà Nội – tuy muốn sử dụng tiềm lực của thành phần trí thức vào công cuộc cải tổ hiện nay – nhưng vì không muốn ai giỏi hơn và qua mặt lãnh đạo, nên họ đã tìm cách xiết chặt để kiểm soát.

Tóm lại, viêc Tia Sáng Online bị đình bản hoàn toàn vì lý do chính trị. Đây là hệ quả của việc ra đời Quyết Định 97 do ông Nguyện Tấn Dũng ký và cũng là sự phản kháng của thành phần trí thức đang làm việc trong Bộ Khoa học và Công nghệ. Tình hình phản kháng này không dừng lại ở đây mà sẽ lan rộng qua nhiều bộ phận khác và tạo thành những nhóm trí thức bất phục các chỉ thị của chế độ như sự kiện hàng ngàn chuyên gia, trí thức đã ký tên vào Kiến nghị chống khai thác Bauxite tại Tây Nguyên. Đây là một diễn tiến rất có lợi cho phong trào dân chủ hóa Viêt Nam, chắc chắn sẽ có thêm giới chuyên gia, trí thức khác sẽ tham gia đóng góp với phong trào trong thời gian tới. Nói cách khác, lãnh đạo Hà Nội chỉ chọc giận giới trí thức qua việc đình bản Tia Sáng Online và đổ dầu thêm lửa vào phong trào đối kháng của toàn dân mà thôi.

Trung Điền


Lãnh đạo CSVN hãy lập bàn thờ riêng mà thờ lạy 16 chữ vàng

04/11/2009

arton9185-dc1f2Cuối tháng 9 vừa qua, 200 ngư dân tỉnh Quảng Ngãi vào tránh bão số 9 tại quần đảo Hoàng Sa, bị lính Trung Quốc xả súng bắn xua đuổi; vì không còn cách nào khác, ngư dân ta phải chạy đại vào núp bão, thì bị đánh đập, cướp tài sản, ngư cụ… Sự kiện này đã khiến cho người Việt Nam không ai là không phẫn nộ.

Ngày 16.10.2009, Phó Chủ tịch Hội nghề cá Việt Nam đã gởi Công văn kêu cứu đến các cơ quan liên hệ của nhà nước CSVN, đồng thời gửi thư cho Đại sứ quán Trung Quốc “cực lực phản đối” hành vi hải tặc nêu trên của lính Trung Quốc và yêu cầu bồi thường. Trong khi đó, Thủ tướng CSVN là ông Nguyễn Tấn Dũng đang công du Trung Quốc và gặp gỡ thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tại Tứ Xuyên, nhưng không dám hé môi nói nửa lời về việc này. Dư luận cho rằng, ông Dũng không dám mở miệng làm thủ tướng “nước lạ” mất vui, vì ông đang ở cái thế phải cầu cạnh thiên triều để giữ được cái ghế của ông trong kỳ đại hội đảng sắp tới. Trước đó, ông Dũng cũng đã có món quà lót đường cho chuyến đi bằng bản án 59 năm tù và quản chế đối với 9 nhà dân chủ yêu nước đã dám chống đối Thiên Triều xâm lấn biển, đảo của Việt Nam.

Thái độ ngoan ngoãn của ông Dũng đã được báo chí “lề bên phải” tung hô là để vun bồi cho tình hữu nghị Việt Trung; nhất là sau khi hai bên khẳng định rằng sẽ làm hết sức mình để nâng cấp tình “hữu nghị” đó ngày càng sâu sắc hơn, tin cậy nhau hơn trong sự nghiệp đổi mới, phát triển ở mỗi nước, theo phương châm 16 chữ “Láng giềng hữu nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai”; cùng tinh thần 4 tốt: “Láng giềng tốt, Đồng chí tốt, Bạn bè tốt và Đối tác tốt”, và quan hệ “Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” v.v và v.v.

Ngày 21.10.2009, sau khi ông Nguyễn Tấn Dũng trở về, thì Hà Nội mới cho phép cái “máy nói” Nguyễn Phương Nga lên tiếng thông báo về sự phản đối của Hà Nội đối với việc “nhân viên vũ trang Trung Quốc có những hành động vô nhân đạo đối với ngư dân Việt Nam vào tránh bão tại đảo Phú Lâm…”. Sự rụt rè phản đối chính thức này xẩy ra 5 ngày sau khi Hội Nghề Cá Việt Nam gửi thư phản đối, và gần 1 tháng trời sau khi vụ việc diễn ra… Theo những nguyên tắc ngoại giao thông thường, thì ngay sau khi biết rõ vụ việc, lẽ ra Hà Nội phải họp báo chính thức lên án hành vi của lính Trung Quốc! Và nếu biết trọng danh dự của dân tộc thì phải lập tức gọi đại sứ Trung Quốc tới Bộ Ngoại Giao để phản đối, phải yêu cầu họ điều tra, trừng phạt những tên lính Trung Quốc có hành vi hải tặc, và phải bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân. Đồng thời, triệu hồi đại sứ của mình về nước và kiện Trung Cộng trước tòa án quốc tế.

Thế nhưng, như vừa đề cập, phải gần một tháng sau Hà Nội mới dám lên tiếng… Đến đây, người ta phải tự hỏi, tại sao lại lên tiếng trễ như vậy? Phải chăng vì thấy người dân bức xúc, chê bai quá? Và nếu không có làng dân báo”theo lề bên trái” phẫn nộ lên tiếng vạch trần sự khiếp nhược hèn hạ, thì liệu rằng Hà Nội có lên tiếng không? Và nay đã lên tiếng, thì sao không để cho truyền thông báo chí tự do phỏng vấn và đăng tải, để biết trả lời của sứ quán Trung Quốc về việc này ra sao?….

Đây chẳng phải là lần đầu tiên Hà Nội thể hiện sự ươn hèn như vậy. Nhìn lại mấy chục năm vừa qua người ta sẽ thấy Hà Nội đã, đang và sẽ còn tiếp tục ươn hèn, hy sinh quyền lợi của Việt Nam hầu làm hài lòng Trung Quốc để củng cố cho quyền lực của mình.

Trong cuộc chiến xâm chiếm miền Nam trước đây, để được dễ dàng tiếp nhận vũ khí, chiến cụ của Trung Quốc hầu tàn phá đất nước, Hà Nội đã cho Bắc Kinh đặt điểm nối đường sắt Việt-Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam hơn 300 mét so với đường biên giới lịch sử tại khu vực Ải Nam Quan. Trung Quốc đã coi điểm nối này là điểm nằm trên đường biên giới, và tuyên bố phần đất phía bắc điểm nối đó là lãnh thổ của họ, để không bị không quân Mỹ ném bom. Cuối năm 1974, Hà Nội đã đề nghị Bắc Kinh điều chỉnh lại đường nối vừa kể cho phù hợp đường biên giới lịch sử, nhưng Bắc Kinh một mực khước từ; hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét. Tuy đã đề nghị như thế, nhưng Hà Nội vẫn ngậm miệng, không dám đòi lại lãnh thổ khi Bắc Kinh trắng trợn ngụy biện rằng “không thể có đường sắt của nước này đặt trên lãnh thổ nước khác”. Với sự ươn hèn đó của Hà Nội, Bắc Kinh đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình trên phần đất được Hà Nội dâng nhượng đó. Sau trận chiến năm 1979, Bắc Kinh chiếm thêm một số vùng đất dọc biên giới. Chín năm sau, họ bắn giết 70 chiến sĩ hải quân Việt Nam và chiếm luôn một số đảo trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Với sự bắt nạt trắng trợn đó, khi khối các nước cộng sản sụp đổ, thay vì trở về với dân tộc để tạo sức mạnh bảo vệ lãnh thổ, thì Hà Nội lại khúm núm khấu tấu Bắc Kinh để có chỗ dựa bám giữ quyền lực. Từ đó, Hà Nội đã ngoan ngoãn ký kết Hiệp định Biên giới và hiệp định Phân Định Vịnh Bắc Bộ để dâng nhượng thêm, cũng như hợp thức hoá những vùng đất, vùng biển bị Trung Quốc xâm chiếm.

Nguyen_Tan_Dung_-_150_trieuKề từ đó, song song với việc lấn chiếm, khai thác tài nguyên dưới thềm lục địa của Việt Nam, Bắc Kinh đối xử với ngư dân Việt Nam như kẻ thù. Một mặt cứ rượt bắt, đánh đập, trấn lột, thậm chí bắn giết ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam; một mặt thì miệng cứ hô hào tình “láng giềng hữu nghị”. Điều khiến người ta phải ngạc nhiên hơn cả là trước tình trạng đó Hà Nội đã không dám làm gì cả; ngay cả khi sự việc đã hiển nhiên, thì Hà Nội cũng chỉ dám gọi kẻ xâm lược là “nước lạ”, “tàu lạ” v.v… để tiếp tục thờ lạy tình “Láng Giềng Hữu Nghị” trong 16 chữ vàng của Bắc Kinh ban cho. Gần đây, gia đình ông Nguyễn Tấn Dũng lại được Bắc Kinh lót tay 150 triệu đô la Mỹ để thúc đẩy ông Dũng quyết tâm thực hiện “chính sách lớn” của đảng và nhà nước CSVN, dọn đường cho việc biến Tây Nguyên thành tô giới của Tàu. Có lẽ Hà Nội coi tô giới Tây Nguyên sẽ vĩnh viễn thuộc Trung Quốc, và dần dần cả nước Việt Nam sẽ thành quận huyện của Tàu, nên đã không cần quan tâm đến việc Trung Quốc huỷ hoại môi trường ở Tây nguyên; không cần quan tâm đến việc hàng chục ngàn lao động Trung Quốc tha hồ vào Việt Nam để lập thêm những tô giới khác, mà người dân Việt Nam cũng như ngay cả các cơ quan an ninh CSVN không dám đụng đến. Để thúc đẩy cho tiến trình “Tàu hoá” này được nhanh chóng và vững vàng, thỉnh thoảng Hà Nội dùng các cơ quan truyền thông chính thức của đảng CSVN để tuyên truyền về chủ quyền biển đảo của Trung Quốc trên biển Đông. Đồng thời hợp tác với Trung Quốc để khuyến khích phổ biến văn hóa Tàu tràn ngập trên các kênh thông tin “trong luồng” của nhà nước.

Khi người dân Việt Nam lên tiếng bất bình, thì chỉ cần một viên thư ký ở Sứ quán Trung Quốc lên tiếng mắng mỏ là Hà Nội riu riú nghe theo. Trong mọi việc đối với Bắc Kinh, Hà Nội đều nhất nhất cố chứng tỏ “thiện chí hữu hảo” trong tinh thần 16 chữ vàng và “4 tốt”. Điều này cứ được 2 bên lập đi lập lại. Bắc Kinh thì nhắc nhở (khi Hà Nội bị áp lực của dân chúng), còn Hà Nội thì tuyệt đối tuân hành.

Như vậy, phải chăng “Láng giềng hữu nghị”, là CSVN không bao giờ dám lên tiếng phản đối về sự xâm lăng lãnh thổ, biển, đảo; phản đối những hành vi hải tặc của lính Trung Quốc trong lãnh hải Việt Nam? Vì lên tiếng phản đối sẽ làm phật lòng đàn anh, làm mất tình hữu nghị? Bên cạnh đó, để nâng tình hữu nghị lên “một tầm cao mới” thì Hà Nội càng phải ra sức nịnh hót kiểu tâng bốc “anh hùng” Hứa Thế Hữu, hoặc dùng truyển thông “lề bên phải” của đảng CSVN để tuyên truyền dùm Trung Quốc?

Phải chăng “Hợp tác toàn diện” là những gì của Trung Quốc thì Trung Quốc dùng, còn của Việt Nam thì hoặc là phải dâng cho Trung Quốc, hoặc là Việt Nam và Trung Quốc sài chung?

Phải chăng “Ổn định lâu dài” là ngư dân Việt Nam chỉ được đánh bắt loanh quanh gần bờ, cấm vượt qua lằn ranh lưỡi bò mà Bắc Kinh vạch trên biển Đông. Hải quân Việt Nam thì nên đứng trên bờ chĩa ống nhòm ra biển để… “bảo vệ” biển và ngư dân? Hay mướn vệ tinh để theo dõi các sự việc xảy trên biển Đông cho… biết mà thôi? Đặc biệt là Hà Nội phải lập tức trấn áp những ai dám đụng đến chủ Bắc Kinh; và cực chẳng đã nếu phải lên tiếng thì cũng phải mỏi gối, cong lưng chờ dinh quan thái thú cho phép?

16_chu_vangVà phải chăng thực hiện triệt để những điều trên, cùng với các nỗ lực ra sức Hán hoá dân tộc Việt Nam đang tiến hành là để tạo điều kiện “Hướng Tới Tương Lai” của Việt Nam như Tân Cương hay Tây Tạng hiện nay?

Người dân Việt Nam biết rất rõ là Bắc Kinh không hề xem người Việt là bạn. Nước Tàu từ xưa đến nay vẫn chỉ xem Việt nam là một quận huyện của họ bị người Việt Nam tạm thời chiếm đóng, và nhiên hậu họ sẽ phải lấy lại. Thực hiện tinh thần 16 chữ vàng như vừa nêu ở trên chính là một sách lược để Bắc Kinh thực hiện ý đồ từ hàng ngàn năm nay của họ. Do bị trấn áp nghiệt ngã, nhưng với ý thức phản kháng, người Việt đã sáng tạo ra nhiều thứ “16 chữ vàng” khác, chẳng hạn như: “láng giềng hiểm độc, cướp đất toàn diện, lấn biển lâu dài, thôn tính tương lai”.

Tóm lại, lãnh đạo cộng sản Việt Nam muốn thờ lạy 16 chữ vàng được Trung Quốc ban cho hay không là quyền của họ. Nhưng họ đừng bắt người Việt Nam phải xì xụp bái lạy những chữ đó giống như họ. Người Việt Nam nhất quyết không về hùa với những hạng người vong bản, bán nước mà phản bội tổ tiên, phản bội chính dân tộc mình.

Nguyễn Thanh Văn


Đảng Việt Tân vận động chính giới Úc

30/10/2009

Vào hai ngày 28 và 29 tháng 10 năm 2009, một phái đoàn của Đảng Việt Tân, do Ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ Tịch Đảng dẫn đầu, đã đến Quốc Hội Liên Bang Úc Đại Lợi (Australia) tại thủ đô Canberra để gặp gỡ theo lời mời của một số vị dân cử tại đây.Các buổi trao đổi đã diễn ra tuần tự với các Dân Biểu Steve Georganas, Kerry Rea, Bernie Ripoll; và sau đó, với các Thượng Nghị Sĩ Brett Mason, David Feeney, Gary Humphries, Russell Trood và Mark Furner.

Từ trái sang phải: TNS Gary Humphries, TNS Russell Trood, TNS David Feeney, TNS Brett Mason, TNS Mark Furner, DB Kerry Rea, DB Bernie Ripoll, DB Luke Simpkins.

Từ trái sang phải: TNS Gary Humphries, TNS Russell Trood, TNS David Feeney, TNS Brett Mason, TNS Mark Furner, DB Kerry Rea, DB Bernie Ripoll, DB Luke Simpkins.

Cùng đi trong phái đoàn còn có các đại diện Việt Tân tại Úc — ông Đỗ Đăng Liêu, Bác Sĩ Nguyễn Đỗ Thanh Phong, ông Trương Minh Đức — cùng một số đảng viên khác.

Mục đích của các cuộc gặp gỡ lần này là để vận động cho Quyền Tự Do Internet tại Việt Nam và tranh đấu cho tất cả các nhà dân chủ đang bị cầm tù tại Việt Nam. Danh tánh của từng nhà đấu tranh này được liệt kê trong một tài liệu có tên Những Tiếng Nói Lương Tâm (Voices of Concience) mà Đảng Việt Tân đã cập nhật hơn 10 năm qua. Phái đoàn cũng đặc biệt kêu gọi chính giới Úc đặt vấn đề với Hà Nội về trường hợp 9 nhà dân chủ vừa bị kết án bất công, cũng như những thủ thuật công an CSVN đã sử dụng đối với nhà văn Trần Khải Thanh Thủy; và tình trạng nhà dân chủ Phạm Thanh Nghiên bị giam giữ đã hơn một năm không xét xử. Đây là những hồ sơ vi phạm nhân quyền trắng trợn của nhà nước CSVN.

Vào hai ngày 28 và 29 tháng 10 năm 2009, một phái đoàn của Đảng Việt Tân, do Ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ Tịch Đảng dẫn đầu, đã đến Quốc Hội Liên Bang Úc Đại Lợi (Australia) tại thủ đô Canberra để gặp gỡ theo lời mời của một số vị dân cử tại đây.

phai_doan_VT_va_DB_Luke_Simpkins

Phái đoàn Việt Tân và Dân biểu Luke Simpkins

Phái đoàn đã trình bày về hiện trạng kiểm soát ngặt nghèo toàn bộ hệ thống truyền thông của nhà nước CSVN. Tất cả 800 báo và đài phát thanh, phát hình chỉ có một tổng biên tập. Vì vậy, người dân Việt Nam hiện nay chỉ còn cửa ngõ duy nhất là mạng Internet để có được các nguồn thông tin độc lập và trung thực. Nhiều người đã thực hiện những trang blog của riêng mình, để vừa chủ động san sẻ những tin tức trung thực, vừa thực thi quyền tự do ngôn luận của họ. Từ đó, các blogger đã đương nhiên trở thành những “nhà dân báo”, với chức năng thông tin và phân tích. Tập thể các bloggers trở thành một “làng dân báo” nằm ngoài luồng kiểm soát của chế độ. Hiện tượng phát triển tự nhiên theo đà tiến bộ của nhân loại này đã khiến nhà nước CSVN lo ngại và đang áp đặt ngày càng nhiều những biện pháp giới hạn tự do internet. Một trong những biện pháp đó là các trò bạo hành nhằm trói tay các nhà dân báo.

Phái đoàn đã kêu gọi các Dân biểu và Thượng Nghị Sĩ Úc hỗ trợ bằng cách:

- Thúc đẩy Chính Phủ Úc mở nhiều hơn nữa các cuộc đối thoại song phương với nhà nước Việt Nam về nhân quyền, đặc biệt là quyền Tự Do Ngôn Luận, Tự Do Internet. Đây là cách để cho các lãnh tụ CSVN biết các hành vi của họ đang được thế giới theo dõi và ghi sổ.

- Bảo trợ một nghị quyết kêu gọi thực thi nhân quyền tại Việt Nam để đệ trình toàn Quốc Hội Úc. Đây là bước tích cực để ảnh hưởng lên các chính sách của Chính phủ Úc.

- Lên tiếng đòi Hà Nội phải trả tự do lập tức và vô điều kiện cho các nhà đấu tranh dân chủ hiện bị giam giữ và quản chế tại Việt Nam.

tiec-insertTại tất cả các cuộc gặp gỡ này, các dân biểu và thượng nghị sĩ thuộc cả 2 đảng — Đảng Lao Động đang nắm quyền và Đảng Tự Do trong vai đối lập — đều tích cực đáp ứng lời kêu gọi của phái đoàn Việt Tân. Một số hành động cụ thể đã được đồng ý tiến hành để vận động Hành Pháp Úc và tạo thêm áp lực lên nhà nước CSVN, kể cả việc yêu cầu Bộ Ngoại Giao Úc và Sứ Quán Úc tổ chức các chuyến “thăm tù”.

Ngoài ra phái đoàn cũng đã có một buổi ăn tối cùng một số vị dân cử và những nhà hoạt động tích cực trong chính giới Úc. Trong dịp này Đảng Việt Tân đã có cơ hội trình bày về đường hướng và thành quả hoạt động của Đảng, dựa trên các nguyên tắc và chiến lược đấu tranh bất bạo động.


Buổi Sinh Hoạt Về Hiện Tình Việt Nam tại Hawaii

28/10/2009

Chiều ngày 24 tháng 10 vừa qua, Cơ sở Đảng Việt Tân tại Hawaii đã tổ chức một buổi nói chuyện về tình hình đấu tranh tại Việt Nam do ông Lý Thái Hùng, Tổng Bí Thư Đảng Việt Tân trình bày, đồng thời giới thiệu đoạn phim ngắn “Đi Tù Vì Yêu Nước” ghi lại diễn tiến phiên tòa xét xử 9 nhà dân chủ yêu nước đã bị Hà Nội kết án tổng cộng 59 năm tù gồm 32 năm tù giam và 27 năm quản chế. Buổi sinh hoạt dưới hình thức bữa cơm gây quỹ yểm trợ các nhà dân chủ đã khai mạc vào lúc 6 giờ chiều tại nhà hàng Golden Palace, quy tụ 200 đồng hương và đại diện các đoàn thể, cơ quan truyền thông tham dự.

Sau nghi thức khai mạc, ông Nguyễn Văn Hoàng, đại diện Cơ sở đảng Việt Tân tại Hawaii ngỏ lời chào mừng quan khách và đồng hương, đồng thời cho biết mục tiêu chính của buổi sinh hoạt là để đảng Viêt Tân trao đổi với đồng bào về tình đấu tranh của các nhà dân chủ hiện nay tại Việt Nam. Sau đó, ông Tổng Bí Thư Lý Thái Hùng đến từ California, đã có một bài nói chuyện rất xúc tích, thu hút sự chú ý của mọi người.

Ông Lý Thái Hùng đã cho biết chủ tâm của Hà Nội là bao vây và triệt hạ nguồn kinh tế của các nhà dân chủ và thân nhân của họ để không dám chống lại chế độ; nhưng âm mưu này thất bại vì có sự yểm trợ tích cực và kiên trì của cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại nên làn sóng phản kháng ở trong nước vẫn tiếp tục gia tăng. Ngoài ra, ông Lý Thái Hùng đã phân tích về những áp lực đấu tranh của phong trào dân chủ tại Việt Nam khiến cho Hà Nội không thể nào ổn định được tình hình, và sự qụy lụy của Hà Nội vào sự bảo hộ của Trung Quốc để có thể duy trì quyền lực độc tôn, bán rẻ đất nước đã là động lượng gia tăng làn sóng chống đối. Ông Lý Thái Hùng cho rằng, đấu tranh để Việt Nam sớm có tự do dân chủ là một nhu cầu khẩn cấp trong những năm đầu thế kỷ 21; nhưng sự lệ thuộc của Hà Nội vào Bắc Kinh hiện nay là một vấn nạn lớn cho sự độc lập của Việt Nam nếu như toàn thể người Việt Nam không gấp rút đấu tranh chống lại Trung Quốc và chống lại tập đoàn lãnh đạo tay sai bán nước Hà Nội.

Sau phần nói chuyện của ông Lý Thái Hùng, ban tổ chức đã mời ông Lý Thái Hùng, Đông Y Sĩ Cảnh Thiên và ông Trưởng ban tổ chúc Nguyễn Văn Hoàng lên bàn điều hợp, để trả lời các câu hỏi liên quan đến tình hình. Đa số các câu hỏi đều xoáy rất nhiều vào thái độ bá quyền của Trung Quốc trên Biển Đông, về nhu cầu đoàn kết mọi người và nhu cầu tạo một quỹ hỗ trợ cho các nhà dân chủ đang đấu tranh trực diện tại Việt Nam một cách liên tục và lâu dài. Buổi sinh hoạt kết thúc vào lúc 9:30 tối cùng ngày. Mọi người đều hài lòng về những nội dung trao đổi rất tích cực và soi sáng nhiều vấn đề về tình hình Việt Nam hiện nay.

— -

LTH

Bài Nói Chuyện
Của Ông Lý Thái Hùng, Tổng Bí Thư Đảng Việt Tân
tại Hawaii Ngày 24 Tháng 10 Năm 2009.

Kính thưa quý vị lãnh đạo tinh thần.
Kính thưa quý vị đại diện các đoàn thể và các cơ quan truyền thông.
Kính thưa quý vị thân hữu
Kính thưa toàn thể quý chiến hữu

Chúng tôi rất hân hạnh đưọc gặp mặt quý vị trong buổi sinh hoạt ngày hôm nay. Tuy gọi là buổi ăn gây quỹ yểm trợ cho các nhà dân chủ tại Việt Nam nhưng chúng tôi thiết nghĩ, sự hiện diện của quý vị ở đây ngày hôm nay đã phần nào nói lên sự quan tâm của quý vị đối với phong trào dân chủ tại Việt Nam nói chung và đối với sự hy sinh của những nhà dân chủ đang trải qua những năm tháng lao lý trong ngục tù Cộng sản Việt Nam.

Kính thưa quý vị,

Tính từ năm 2005 trở đi, tức là từ sau khi Cộng sản Việt Nam có đợt ân xá tù nhân chính trị nhiều nhất trước áp lực đấu tranh của Cộng đồng người Việt tại hải ngoại và của các đoàn thể nhân quyền quốc tế thì cho đến nay, số người bị Cộng sản Việt Nam khống chế, bắt cầm tù lên đến vài trăm người, chia làm ba thành phần như sau:

1/ Số người bị cộng sản Việt Nam bắt giữ một vài năm rồi sau đó đưa ra toà kết án từ 3 đến 8 năm hiện có đến vài chục người, như Linh mục Nguyễn Văn Lý bị kết án 8 năm; Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa bị kết 6 năm tù, Kỹ sư Phạm Văn Trội bị kết 4 năm tù; Luật sư Lê Thị Công Nhân bị kết án 3 năm tù; Luật sư Nguyễn Văn Đài bị kết án 4 năm tù. Hoặc những người đang bị bắt nhưng chưa đưa ra xét xử như cô Phan Thanh Nghiên, Luật sư Lê Công Định, ông Trần Huỳnh Duy Thức, ông Nguyễn Tiến Trung… Những người này đều bị Cộng sản Việt Nam ghép vào tội “Tuyên truyền chống phá nhà nước”, dựa theo điều 88 của Luật hình sự. Đây là điều luật phi lý và ngược ngạo vì chính nó đã huỷ diệt quyền tự do ngôn luận mà Cộng sản Việt Nam cho ghi trong hiến pháp.

2/ Số người đang bị quản chế tại gia, tức là không bị ở tù hay mãn tù nhưng vẫn còn trong thời gian quản chế. Những người này rất bị giới hạn tự do, đi đâu phải xin phép công an khu vực và luôn luôn bị theo dõi. Số người này cũng lên đến vài chục người, đơn cử như Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn, ông Nguyễn Vũ Bình, Luật sư Lê Quốc Quân, ông Nguyễn Khắc Toàn, ông Phạm Bá Hải, Hoà Thượng Thích Quảng Độ, Thượng Tọa Thích Viên Định, Thượng Tọa Thích Thiện Minh, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế vân vân…

3/ Những người tuy không bị quản chế nhưng luôn luôn bị công an theo dõi. Đây là những người đã từng viết những bài nhận định hay đã trả lời phỏng vấn trên các đài phát thanh ở Hải ngoại nhằm trình bày những ý kiến mà chế độ cho là chống lại họ. Con số này rất đông lên đến hàng trăm người như nhà giáo Nguyễn Thượng Long, ông Vi Đức Hồi, Ký giả Huy Đức, Blogger Người Buôn Gió, Blogger Mẹ Nấm, Sinh Viên Cao Ngọc Phương, Linh Mục Phan Văn Lợi, Linh Mục Nguyễn Hữu Giải v.v…

Tất cả những người nói trên, dù ở trong nhà tù hay ở ngoài nhà tù, họ không chỉ bị công an theo dõi gắt gao mà chính thân nhân của họ cũng bị theo dõi và cô lập kinh tế. Mục tiêu của Cộng sản Việt Nam là triệt hạ sự sống để những người này không còn dám chống lại đảng và nhà nước.

Nhưng phải nói là Cộng sản Việt Nam đã thất bại trong kế hoạch bao vây kinh tế đối với những nhà dân chủ và thân nhân của họ. Lý do duy nhất là họ được sự giúp đỡ và bảo bọc của Cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại và những nhà dân chủ khác.

Thật vậy, trong nhiều năm qua, nhờ sự yểm trợ miệt mài nhưng kín đáo từ các đoàn thể tại hải ngoại, chúng ta đã chuyển vào giúp cho những nhà đấu tranh qua thân nhân và bạn bè của họ từ tiền thuê luật sự bào chữa trước tòa, tiền thuốc men, mua những dụng cụ liên lạc, tiền di chuyển và kể cả những tiền sinh hoạt phí cho gia đình. Không những thế, số tiền yểm trợ từ hải ngoại còn giúp cho bà con dân oan từ những vùng quê xa xôi có phương tiện lên Hà Nội hay Sài Gòn để nộp đơn kêu oan, giúp cho những người công nhân tham gia vào các đợt đình công đòi tăng lương hay đòi cải thiện nơi làm việc tồi tệ vì bị chủ cúp lương v.v… Chính những nguồn tiền yểm trợ này, chúng ta đã duy trì được ngọn lửa đối kháng tại Việt Nam.

Kính thưa quý vị,

35 năm qua, kể từ ngày Cộng sản Việt Nam đặt ách thống trị lên trên cả nước, phải nói là không một ngày nào họ ổn định được tình hình và luôn luôn phải trực diện với những sự chống đối ngày một leo thang của người dân. Có ba nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất, Cộng sản Việt Nam đã coi vị trí quyền lực của họ cao hơn sự sống và tương lai của người dân. Tất cả những kế hoạch cải cách kinh tế, chấn chỉnh xã hội đều chỉ nhằm mục tiêu xoa dịu sự phẫn hận của quần chúng trước sự suy đồi của xã hội chứ không để cho đất nước được tự do phát triển. Họ biết là chủ nghĩa Mác Lênin đã bị nhân loại vứt vào xọt rác lịch sử; nhưng họ vẫn cố gượng ép tròng lên đầu nhân dân Việt Nam chỉ vì muốn núp sau bức bình phong này để biện minh cho độc quyền thống trị.

Thứ hai, thiểu số lãnh đạo đã ban phát quyền lợi cho một số người liên hệ ở trong và ngoài đảng, tạo thành một giai cấp quý tộc đỏ hầu cùng nhau nắm giữ quyền lực với nhau. Giai cấp này có một đời sống giàu có, sống xa hoa trước sự cơ cực của đại đa số dân chúng và vì được hưởng xa hoa nên giai cấp này phải bám vào quyền lực và bảo vệ sự tồn tại của chế độ.

Thứ ba, thiểu số lãnh đạo không có khả năng nên phải luôn luôn dựa vào quan thầy. Trước đây thì họ dựa vào Liên Xô. Từ khi Liên Xô tan rã, họ dựa vào Trung Quốc từ năm 1991, và để được Bắc Kinh bảo hộ họ đã phải dâng lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo và những khoáng sản tại thềm lục đia của Việt Nam.

Vì những hành vi cai trị độc ác và phản dân tộc nói trên, lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam là tập đoàn bị người Việt Nam lên án là: Hèn với Giặc mà Ác với Dân. Tại sao?

Đối với Trung Quốc, họ không dám lên tiếng mạnh mẽ trước những hành động bá quyền của Bắc Kinh ở biển Đông hay trước sự kiện hải quân Trung Quốc đánh đập, cướp bóc và ngay cả bắn chết các ngư dân Việt Nam đánh cá trên vùng biển của Việt Nam. Trong khi đó, Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương đã không chỉ lên tiếng phản đối mạnh mẽ những vi phạm lãnh hải của Bắc Kinh mà còn tuyên bố sẵn sàng chiến đấu chống lại lực lượng hải quân Trung Quốc nếu vị phạm chủ quyền của họ.

Trong khi đó, Cộng sản Việt Nam lại đàn áp những sinh viên, trí thức lên tiếng chống lại những hành động bá quyền của Trung Quốc trên Biển Đông. Song song, Cộng sản Việt Nam còn bắt giữ và kết án nặng nề những ai có hành động kêu gọi mọi ngưòi cùng nhau chống Trung Quốc để bảo vệ lãnh hải, hải đảo. Khi lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đưa ra tòa trừng phạt 9 nhà dân chủ vừa rồi tại Hà Nội và Hải Phòng vừa qua, họ đã không dám xét xử 9 nhà dân chủ dựa trên tội treo biểu ngữ chống Trung Quốc, mà xét xử theo điều 88 luật hình sự “âm mưu tuyên truyền chống phá nhà nước”. Rõ ràng là Hà Nội đã không dám mang vụ treo biểu ngữ ra xét xử vì sợ sẽ làm xấu mặt Trung Quốc và cũng một lần nữa tự vạch trần bộ mặt “Hèn với giặc – Ác với dân” của chính họ.

Kính thưa quý vị,

Tranh đấu để đất nước sớm có tự do dân chủ là một nhu cầu cấp bách trong thế kỷ 21. Chỉ khi nào Việt Nam có thể chế tự do dân chủ thật sự, người dân Việt Nam mới đóng góp hiệu quả vào vấn đề phát triển đất nước. Tuy nhiên, trong khi chúng ta theo đuổi nhu cầu cấp bách nói trên, một nguy cơ khác, tuy đã tiềm ẩn từ nhiều năm qua nhưng nay đã trở thành một vấn nạn lớn của dân tộc, đó là nếu chúng ta không tranh đấu quyết liệt ngay từ bây giờ để chống lại sự xâm lược của Trung Quốc đang được sự tiếp tay của lãnh đạo Cộng sản Việt Nam, thì đất nước một lần nữa sẽ lại rơi vào vòng thống trị của ngoại bang.

Sau khi nối lại quan hệ với Trung Quốc từ năm 1990, lãnh đạo Hà Nội đã không chỉ tạo quan hệ ngoại giao bình thường mà còn coi Bắc Kinh là chỗ dựa quan trọng để duy trì quyền lực độc tôn tại Việt Nam. Chính vì coi Trung Quốc là chỗ dựa để tồn tại, mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Hà Nội không bình đẳng. Hà Nội là học trò và là kẻ nhờ vả của Bắc Kinh trong mọi cải tổ về tư tưởng, an ninh, kinh tế, đối ngoại…

Trong mối quan hệ thầy trò, Bắc Kinh đã nuốt chửng Hà Nội trên nhiều lãnh vực:

Một là trong vụ đàm phán hai bên về biên giới phía Bắc, Cộng sản Việt Nam đã phải dâng cho Trung Quốc hàng trăm cây số vuông đất biên giới qua hiệp định Biên giới ký năm 1999. Đồng thời Việt Nam cũng đã mất vào tay Trung Quốc hơn 10 ngàn cây số vuông lãnh hải qua Hiệp ước phân định Vịnh Bắc Việt ký năm 2000.

Hai là trong quan hệ kinh tế, theo công bố của Tổng Cục Thống Kê Cộng sản Việt Nam thì trong năm 2008, Việt Nam đã nhập từ Trung Quốc một lượng hàng hóa trị giá 15,7 tỷ Mỹ Kim gồm những hàng công nghiệp, đồ gia dụng như xe gắn máy, tủ lạnh, tivi…; trong khi Việt Nam bán sang Trung Quốc chỉ có 4,5 tỷ Mỹ Kim hàng hóa mà đa số là dầu thô, than đá, cà phê, ngũ cốc và hải sản… Cán cân mậu dịch chênh lệch là 11 tỷ Mỹ Kim. Hàng hóa Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam và đang giết chết rất nhiều xí nghiệp sản xuất của Việt Nam.

Ba là từ năm 1999, Trung Quốc ra thông báo là từ giữa tháng 5 đến tháng 8 hàng năm không cho đánh cá trên vùng diện tích 130 ngàn cây số vuông, chiếm 75% Biển Đông với lý cớ là bảo vệ hải sản. Đây là chủ trương vô cùng phi lý và hồ đồ vì lãnh hải mà Trung Quốc áp đặt quyền cai quản nằm trong thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai. Mặc dù đưa ra như vậy, nhưng năm nay, Trung Quốc mới bắt đầu áp dụng và đã bị Mã Lai, Phi Luật Tân phản kháng rất mạnh mẽ và cho tàu chiến sẵn sàng ứng chiến với hải quân Trung Quốc nếu vi phạm luật biển của Phi Luật Tân hay Mã Lai. Trong khi đó, Cộng sản Việt Nam lên tiếng phản đối rất yếu, chỉ yêu cầu Trung Quốc rút lại lệnh trên rồi thôi và quay ngược lại khuyên ngư dân Việt nên tránh vùng biển đó. Ngay cả việc ngư dân ở miền Trung bị tàu Trung Quốc bắt khi đang đánh cá trên lãnh hải của Việt Nam và bị chúng gọi điện thoại đến tận nhà thân nhân trên đất Việt để đòi tiền chuộc mà Cộng sản Việt Nam đã không có hành động đáng kể để can thiệp.

Bốn là do nhu cầu phát triển công nghiệp, Trung Quốc cần một số lượng nhôm rất lớn. Trung Quốc đã chiêu dụ Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam đồng ý kế hoạch khai thác Bauxite tại Tây Nguyên để lấy Alumium hầu bán cho Trung Quốc để tinh chế ra nhôm, trong khi Trung Quốc lại không tiến hành việc khai thác quặng Bauxite trên đất nước mình. Lý do là khai thác quặng Bauxite sẽ tạo ra nạn bùn đỏ không những gây ô nhiễm môi trường mà còn huỷ diệt môi trường sống của toàn khu vực khai thác và suốt vùng hạ lưu của các dòng sông liên hệ. Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam đã tham tiền nên đã chấp nhận cho tiến hành khai thác tại Tân Rai và Nhân Cơ ở Tây Nguyên từ tháng 11 năm 2008. Tuy nhiên, vấn đề khai thác Bauxite không chỉ đe dọa sự hủy diệt môi trường ở Tây Nguyên mà còn đe dọa đến vấn đề an ninh chiến lược tại Tây Nguyên khi Hà Nội để cho hơn 10 ngàn người gọi là “chuyên gia Trung Quốc” đến sống và làm việc tại đây đến năm 2025.

Kính thưa quý vị,

Một vài điều trình bày nói trên cho thấy ảnh hưởng của Trung Quốc lên vấn đề Việt Nam rất nghiêm trọng. Kinh tế Trung Quốc hiện đang đứng hàng thứ 3 trên thế giới sau Hoa Kỳ và Nhật nhưng người ta dự kiến là Trung Quốc sẽ vượt qua Nhật vào năm 2020 trở thành cường quốc số 1 ở Á Châu. Không những thế, Trung Quốc đang tân trang quân đội, nhất là bành trướng lực lượng hải quân với tham vọng chia ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên vùng biển Thái Bình Dương mà cụ thể là khống chế Biển Đông. Do đó, tốc độ tiến hành cuộc đấu tranh của chúng ta hiện nay phải gấp rút, phải nhanh chóng trước khi mà Cộng sản Việt Nam ra sức tiêu diệt các tiềm lực đối kháng tại quốc nội và rước các thái thú Trung Quốc núp dưới vỏ chuyên gia vào khống chế Việt Nam.

Trong tinh thần đó, nhân cuộc gặp gỡ hôm nay, chúng tôi xin mạn phép đề nghị cùng quý vị bốn nỗ lực mà mỗi chúng ta có thể làm để cứu nguy đất nưóc.

Thứ nhất là hãy góp phần loan tải những thông tin liên quan đến nguy cơ việc khai thác Bauxite tại Tây Nguyên và sự yếu hèn của Hà Nội không dám phản đối Bắc Kinh chiếm Hoàng sa – Trường sa và khống chế Biển Đông cho thân nhân và bạn bè tại Việt Nam cũng như hải ngoại đều biết để cùng quan tâm tranh đấu.

Thứ hai là tích cực hỗ trợ những nhà dân chủ cũng như những phong trào đấu tranh tại Việt Nam dưới mọi hình thức.

Thứ ba là góp phần tranh thủ dự luận quốc tế, chính giới các quốc gia lên tiếng ủng hộ của đấu tranh của người Việt Nam và áp lực Cộng sản Việt Nam phải tôn trọng tự do dân chủ, nhân quyền; đồng thời phải phóng thích toàn bộ tù nhân chính trị tại Việt Nam.

Thứ tư là cùng nhau ủng hộ lời kêu gọi của Hoà Thượng Thích Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất để vận động mọi người cố gắng cắt giảm tối đa hoặc tẩy chay hoàn toàn việc sử dụng các hàng hóa và thực phẩm của Trung Cộng.

Kính thưa quý vị,

Năm nay – 2009 – đánh dấu 20 năm biến cố Đông Âu. Tại sao người dân Đông Âu đã thanh toán được chế độ vô sản chuyên chính cách đây 20 năm mà người Việt Nam lại chưa làm được điều này? Đương nhiên Đông Âu và Việt Nam có những mặt khác nhau, nhưng nếu chúng ta nhìn thấy tự do dân chủ là khát vọng lớn nhất khiến cho người dân Đông Âu xuống đường tranh đấu và họ đã thành công, thì tôi tin là người Việt Nam có dư khát vọng này. Hơn thế nữa, ngày hôm nay, người Việt Nam còn có một động lực khác lớn lao hơn, đó là sự toàn vẹn lãnh thổ từ sự xâm lược của Phương Bắc. Thấy hiểm họa này mà không đứng dậy thì chúng ta còn chờ ai nữa? Đã đến lúc dân tộc Việt Nam cần đứng lên, phải đứng lên để làm lịch sử.

Trân trọng kính chào toàn thể quý vị,

Lý Thái Hùng


Tuyên Dương Vedan: Cá Tháng 10 Tại Việt Nam?

28/10/2009

arton9160-0c484Trong danh sách tuyên dương “100 sản phẩm an toàn vì sức khoẻ cộng đồng năm 2009”, Cộng sản Việt Nam đã vinh danh 3 sản phẩm của công ty Vedan, một công ty liên doanh của người Đài Loan đã từng thải hóa chất bừa bãi ra sông Thị Vải gây ô nhiễm và đe dọa môi trường sống cho hàng triệu người thuộc ba tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Sài Gòn trong các năm vừa qua. Khi tin tức nói trên được loan tải trên báo chí, mọi người tưởng là chuyện đùa vì cho đến nay công ty Vedan vẫn từ chối bồi thường thiệt hại cho nông dân ba tỉnh lên đến 600 tỷ đồng, tương đương 34 triệu Mỹ Kim.

Công ty Vedan chuyên sản xuất bột ngọt và tinh chế bột, thức ăn gia súc, phân bón v.v… được thành lập vào năm 1991 tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Đến năm 1994, ngay sau khi đi vào hoạt động chính thức, công ty đã thải chất cặn bã gây ô nhiễm môi trường sông Thị Vải làm thuỷ sản chết hàng loạt. Cộng sản Việt Nam đã yêu cầu công ty Vedan ngưng hoạt động một thời gian để cải thiện ô nhiễm môi trường; nhưng chỉ ba tháng sau, công ty Vedan đã được phép hoạt động trở lại và tiếp tục gây ô nhiễm dòng sông Thị Vải.

Đến năm 2005, tình trạng ô nhiễm trên dòng sông Thị Vải ảnh hưởng đến việc nuôi trồng thủy sản của nông dân một cách trầm trọng; Cộng sản Việt Nam ra lệnh công ty Vedan xử lý ô nhiễm, nhưng công ty này chỉ chấp nhận bồi thường 15 tỷ đồng và tiếp tục hoạt động. Tháng 7 năm 2005, công ty Vedan bị xử phạt vi phạm hành chính 9 triệu đồng và được yêu cầu khắc phục ô nhiễm cũng như hoàn thành các công trình xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn Việt Nam. Nhưng thay vì khắc phục ô nhiễm, công ty này đã thiết kế và lắp đặt hệ thống xả nước thải một cách tinh vi che mắt sự kiểm soát của nhà cầm quyền. Công ty Vedan đã lắp đặt hệ thống bơm nước thải sâu dưới đất dài 2,2 cây số và trụ bơm thoát nước được cắm sâu xuống sông Thị Vải đến 8 mét. Với sự che giấu này, tận dụng lúc trời tối, công ty đã xả nước thải chưa qua giai đoạn xử lý xuống sông, mỗi tháng tới 44,800 mét khối.

Sự che giấu của công ty Vedan nói trên đã bị phát hiện vào năm 2008. Cộng sản Việt Nam ra lệnh cho công ty này ngưng hoạt động, tháo gỡ toàn bộ hệ thống ống ngầm và nộp phạt vi phạm hành chính 267 triệu đồng. Cộng sản Việt Nam còn ra lệnh cho công ty Vedan bồi thường thiệt hại cho 11 ngàn đơn kiện của nông dân ba tỉnh với số tiền lên đến 600 tỷ đồng. Năm 2009, công ty Vedan tuyên bố rằng họ sẽ dời công ty sang nước khác nếu không cho tiếp tục hoạt động và không trả tiền bối thường 34 triệu Mỹ Kim theo như đề nghị của các nông dân ba tỉnh vì cho là quá cao và chỉ bồi thường ở mức 1 triệu 400 ngàn Mỹ Kim mà thôi.

Trong khi vụ án của công ty Vedan chưa ngã ngũ thì ban tổ chức giải thưởng “100 sản phẩm an toàn vì sức khoẻ cộng đồng” lại công bố công ty này có ba sản phẩm gồm Bột ngọt Vedan, Vedan hạt nêm thịt heo và tinh bột biến đổi. Được biết, những công ty muốn tham gia để được tuyên dương thì phải ký hợp đồng, hỗ trợ ban tổ chức tổng cộng 30 triệu đồng để gọi là “phục vụ công tác tổ chức, xét tặng, truyền thông và lễ tuyên dương giải thưởng”. Ban tổ chức giải thưởng này do Trung tâm tư vấn phát triển thương hiệu và chất lượng thành phố Sài Gòn chủ trì cùng với sự tham vấn của Bộ khoa học công nghiệp, Bộ y tế, Bộ công thương. Với sự liên hệ của ba bộ quan trọng trong vấn đề sản xuất các sản phẩm tiêu thụ, ban tổ chức giải thưởng có một ảnh hưởng rất lớn lên các công ty liên hệ.

Nhưng khi tin tức ba sản phẩm của công ty Vedan được tuyên dương loan tải vào chiều ngày 26 tháng 10 thì dư luận đã nổi lên làn sóng phản đối rất mạnh mẽ, khiến cho ông Ngô Quý Việt, tổng cục trưởng tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng đã phải họp báo cho rằng việc trao giải thưởng cho Vedan là sai sót của ban tổ chức. Trước áp lực này, Bộ y tế cũng đã ra quyết định tạm đình chỉ công tác của ông Hoàng Thủy Tiến, cục phó cục an toàn vệ sinh thực phẩm, người đã ký vào bản tuyên dương 3 sản phẩm công ty Vedan. Bộ khoa học công nghệ thì ra chỉ thị cho ban tổ chức phải thu hồi lại giấy tuyên dương đã cấp cho công ty Vedan. Nhưng đại diện công ty Vedan phản đối cho rằng họ không trả lại giải thưởng vì khi bình chọn giải thưởng phải có những tiêu chỉ cụ thể cho từng loại sản phẩm, và bây giờ rút lại cũng phải có tiêu chỉ đàng hoàng.

Trong khi đó, đại diện cho ban tổ chức giải thưởng là ông Bùi Văn Quyền (Bộ Khoa học công nghệ) nói rằng trong đêm trao giải thưởng không có trao cho công ty Vedan và đại diện công ty Vedan chỉ lên sân khấu ủng hộ tiền cứu trợ nạn nhân bão lụt miền Trung. Bà Nguyễn Thị Sinh, giám đốc Trung tâm tư vấn phát triển thương hiệu và chất lượng tại Sài Gòn và cũng là Trưởng ban tổ chức giải thưởng, thì đỗ lỗi do sai sót của nhân viên đánh máy đã nhầm lẫn khi đưa danh sách đề cử và danh sách doanh nghiệp đoạt giải lên trang web. Trong khi đó, ông Yeh Sheau Yeh, giám đốc công ty Vedan thì khẳng định là họ được nhận 3 chứng chỉ tuyên dương ba sản phẩm từ ban tổ chức.

Những loay hoay giải thích và phủi tay trách nhiệm của cán bộ Cộng sản Việt Nam liên quan đến việc cấp 3 chứng chỉ tuyên dương công ty Vedan đã cho thấy ra ba điều:

Thứ nhất là con vi khuẩn coi thường dư luận của những cán bộ trách nhiệm liên quan đến những vấn đề sức khoẻ của người dân đã ở mức miễn nhiễm. Họ có thể giải thích bất cứ những lý do gì để chạy tội cho họ. Bà Nguyễn Thị Sinh, trưởng ban tổ chức giải thưởng đã phủi tay khi đổ lỗ lỗi cho người đánh máy giống như trường hợp Đào Duy Quát đã đổ lỗi cho cậu thanh niên đánh máy khi đưa bản tin ca ngợi hải quân Trung Quốc tập trận ở Hoàng sa.

Thứ hai là hệ thống tham nhũng chằng chịt trong các cơ chế. Mỗi công ty muốn tham gia vào việc bình chọn phải đóng cho ban tổ chức 30 triệu. Công ty Vedan chắc chắn đã phải đóng một số tiền gấp nhiều lần để không chỉ được ghi vào danh sách đề cử, mà còn được nhận 3 chứng chỉ chứng nhận ở phía sau hậu trường, do đại diện Bộ y tế ký. Công ty Vedan đã dùng tiền để mong xóa tội lỗi của họ đối với công chúng Việt Nam qua các quan tham ở Sài Gòn.

Thứ ba là lễ trao giải thưởng diễn ra tối ngày 11 tháng 10, nhưng đến hai tuần sau mới công bố lên báo chí (26/10), cho thấy là ban tổ chức muốn đặt dư luận vào chuyện đã rồi trong sự đồng tình của cán bộ lãnh đạo các Bộ. Nghĩa là họ mua thời gian để không tạo cho dư luận quan tâm ngay vào kế hoạch “bán giải thưỏng” của ban tổ chức cho công ty Vedan. Nhưng điều mà Cộng sản Việt Nam không ngờ là sức mạnh của truyền thông ngoài luồng đã góp phần kích lên sự phẫn nộ của dư luận, khiến cho chế độ không thể làm ngơ các tội ác của ban tổ chức giải thưởng.

…Cộng sản Việt Nam càng ngày càng đối diện với những phanh phui của dư luận về những sai trái của chính họ mà không còn có thể che giấu hoặc bưng bít như trước đây.

Tóm lại, qua vụ án Vedan cho chúng ta thấy là Cộng sản Việt Nam càng ngày càng đối diện với những phanh phui của dư luận về những sai trái của chính họ mà không còn có thể che giấu hoặc bưng bít như trước đây. Đây chính là những diễn biến mang tính “tự diễn biến” trong hệ thống độc tài mà họ đã không chịu nhìn ra, cứ đi đổ lỗi cho các thế lực thù địch bên ngoài kích động. Vụ án Vedan, như nhận xét của đại biểu quốc hội Nguyễn Đỉnh Xuân là chuyện đùa dai của chế độ, ngu xuẩn tới độ người ta tưởng Ngày Cá Tháng Tư (April Fool’s Day) đang xảy ra vào tháng 10 tại Việt Nam.

Trung Điền


Blogger và nhà dân chủ Trần Khải Thanh Thuỷ bị đánh đập và bắt giữ

27/10/2009

Ngày 23 tháng 10, 2009

Việc bắt giữ các blogger Việt Nam vẫn tiếp diễn: Blogger và nhà hoạt động dân chủ Trần Khải Thanh Thủy bị đánh đập và bắt giữ*

arton9143-3a89eNgày 23 Tháng 10 năm 2009 – Nhà cầm quyền Việt Nam đã bắt giữ thêm một blogger sau khi đã bỏ tù chín nhà tranh đấu mạng từ 2 đến 6 năm vì họ bày tỏ quan điểm trên internet.

Trần Khải Thanh Thủy đã bị bắt vào tối ngày 08 Tháng 10 năm 2009 sau khi công an phái nhân viên thường phục đến nhà bà để quấy rối bà, chồng bà, và cô con gái 13 tuổi của họ. Các viên chức đã đánh bà Thủy bằng viên gạch, gây chấn thương đầu bà. Bà Thủy và chồng sau đó đã bị cảnh sát bắt đi, để lại cô con gái của họ ở nhà một mình.

Trước ngày hôm đó bà Thủy đi Hải Phòng để hỗ trợ sáu nhà hoạt động dân chủ bị bắt giữ chờ đưa ra xét xử. Bà đã bị cảnh sát chận lại và bắt đi mà không có lý do. Sau vài giờ bị bắt giữ không cho liên lạc, bà đã được thả ra, sau đó bị bắt giữ một lần nữa trong cùng buổi tối hôm đó.

.”]1-36-2

Trần Khải Thanh Thủy bị chấn thương ở đầu và mẹ bà (bên phải). [Nguồn: Blog Hãy thả Trần Khải Thanh Thủy

Đây không phải là lần đầu tiên Trần Khải Thanh Thủy đã bị bắt vì viết blog và các hoạt động của bà. Bà bị bắt giam trong chín tháng trong năm 2007 vì lên tiếng giúp dân oan tìm công lý vì đất đai bị chiếm đoạt. Trong thời gian bị cầm tù, bà bị bệnh tiểu đường và bệnh lao trầm trọng nhưng đã không được chữa trị.

Kể từ khi được thả ra trong tháng 2 năm 2008, bà và gia đình đã bị cảnh sát liên tục theo dõi và sách nhiễu. Nhà của bà thường bị phá hoại như bị ném phân vào.

Trần Khải Thanh Thủy bị truy tố về tội bạo hành. Các cơ quan truyền thông nhà nước Việt Nam tường thuật rằng bà và chồng bà đánh và gây thương tích một người đàn ông, vì thế mới bị truy tố. Một bức hình của một người đàn ông chảy máu đã được đăng trên trang web Dân Trí, một trang web của nhà nước Việt Nam.Các blogger Việt Nam đã nghiên cứu tấm hình này và tuyên bố rằng các dữ kiện kỹ thuật số được mã hóa trong hình cho thấy rằng nó đã được chụp vào ngày 28 tháng 2 năm 2005. Tuy nhiên, tấm hình đăng trên trang web mang dấu ngày tháng lại là ngày 09 tháng 10 năm 2009. Nhiều blogger Việt Nam tin rằng bức hình đã được dàn dựng bởi cảnh sát để khép tội bà Thủy.

2-16-2

Bức ảnh được nguỵ tạo cho thấy vết thương của Nguyễn Mạnh Điệp.

Trần Khải Thanh Thủy là một thành viên danh dự của Hội Văn Bút Anh Pen, một tổ chức phi chính phủ hoạt động quảng bá văn học và nhân quyền, và bà cũng là người nhận giải Hellman 2007 của Human Rights Watch’s / Hammett Award.

Blog của bà Thuỷ có thể tìm đọc tại http://trankhaithanhthuy.blogspot.com. Chúng tôi đang kêu gọi các blogger lên tiếng về trường hợp Trần Khải Thanh Thủy bằng cách hỗ trợ blog của bà cũng như viết thư đến các đại diện ngoại giao của mình tại Hà Nội để nhờ can thiệp. Bạn cũng có thể truy cập vào blog của chiến dịch http://freetrankhaithanhthuy.wordpress.com.

* Bài viết này đã được viết với sự hợp tác của Việt Tân – một tổ chức tranh đấu cho dân chủ.

Nguồn: Global Voices Advocacy


Người Tù Vì Tự Do

27/10/2009

Vào ngày 6 – 9/10/2009 chế độ CSVN đã đem các nhà yêu nước sau đây ra kết án:

Nhà thơ Trần Đức Thạch, Nhà giáo Vũ Hùng, Kỹ sư Phạm Văn Trội, Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Sinh Viên Ngô Quỳnh, Ông Nguyễn Văn Tính, Ông Nguyễn Văn Túc, Ông Nguyễn Kim Nhàn và Ông Nguyễn Mạnh Sơn.

Bản án tổng cộng dành cho các ông là 59 năm tù và quản chế chỉ vì tội tuyên nhận Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam.

Ngay sau các phiên tòa đầy tính Hèn Với Giặc – Ác Với Dân này, nhạc sĩ Nguyệt Ánh đã cảm tác bản nhạc sau đây. Ban Biên Tập WebVT xin trân trọng giới thiệu:

NguoiTuViTuDo1bNguoiTuViTuDo2b


Hãy Cùng Nhau Lập Hồ Sơ Bọn Tham Nhũng

26/10/2009

arton9141-36654Không biết đây là một sự ngẫu nhiên hay là có sự dàn xếp trước, mà hai Ban phòng chống tham nhũng của nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc và Việt Nam đều chọn ngày 13 tháng 10 năm 2009 để công bố một số thành quả trong việc chống tham nhũng của họ trong thời gian qua. Trong dịp này, Ban phòng chống tham nhũng Trung ương của chính quyền Cộng sản Trung quốc khoe rằng, nhờ quy chế mới về bao bì của Tổng cục kiểm phẩm và Ủy ban quản lý tiêu chuẩn hóa các mặt hàng mà uỷ ban này đã ngăn chặn được hối lộ trong dịp tết Trung thu vừa qua. Còn phía Cộng Sản Việt Nam thì người đứng đầu Ban phòng chống tham nhũng là ông Nguyễn Tấn Dũng, lúc họp Ban này đã đưa ra thành tích phấn khởi là tình trạng tham nhũng đã có giảm, chỉ còn tồn tại một số vụ việc; rồi ông yêu cầu các tỉnh lập danh mục toàn bộ vụ án tham nhũng trên địa bàn của mình để theo dõi và chỉ đạo xử lý dứt điểm.

Với nạn tham nhũng lan tràn từ hàng chục năm nay, thành tích chống tham nhũng được Thủ tướng Ôn Gia Bảo, là người trực tiếp điều hành Ban phòng chống tham nhũng Trung quốc, công bố như vừa nêu đã bị dư luận Trung Quốc chỉ trích chỉ là một thứ trò hề. Ông Ôn Gia Bảo đã biện bạch cho thành thích của ông rằng, tham nhũng vẫn đang là một quốc nạn và cần phải nỗ lực hơn nữa để bài trừ, nếu không thì dân sẽ xa Đảng.

Được biết, trong dịp công bố thành tích vừa nêu, Ban phòng chống tham nhũng Trung Quốc khoe rằng, nhờ các quy chế bao bì mà tết Trung thu năm 2009 đã chận đứng được nạn bỏ vàng bạc, đá quý vào bánh trung thu để biếu tặng cho thủ trưởng, cán bộ, quan chức cao cấp. Công bố này lập tức trở thành trò cười cho người dân Hoa lục, vì tại sao đến năm nay mới đạt thành quả đó, trong khi quy định về bao bì đã đưa ra từ năm 2006. Hơn thế nữa, đâu phải bỏ tiền, vàng bạc, kim cương, hột xoàn vào hộp bánh trung thu đem đến biếu cấp trên, thủ trưởng, là cách duy nhất để đưa và nhận hối lộ? Cũng như phải gói thật sát những quà tặng theo quy định bao bì, thì người muốn hối lộ không còn cách nào khác, đành phải bó tay hay sao?

Người ta đã từng biết về nạn tham nhũng bất trị ở Trung Quốc, cũng như ít nhiều biết rằng, ông Thủ tướng Ôn Gia Bảo được người dân Hoa lục liệt kê trong danh sách những người tham nhũng khét tiếng ở Bắc Kinh. Nhưng đó chẳng phải là điều mà người Việt Nam quan tâm. Điều mà người Việt không thể không quan tâm là sự tham nhũng của ông Nguyễn Tấn Dũng và các quan chức trong đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam. Tầm vóc tham những này quá lớn, đến nỗi tiến sĩ Lê Đăng Doanh, từng là cố vấn kinh tế của mấy triều đại tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam đã từng tuyên bố rằng, hàng chục ngàn vụ tham nhũng bị phát hiện chỉ là phần nhô lên khỏi mặt nước của tảng băng sơn; chỉ chiếm không đầy 10 phần trăm của nạn tham nhũng. Đối với tầng lớp lãnh đạo đảng và nước CSVN, tuy rất khó để mà kiểm chứng, vì những gì liên quan đến tài sản kếch xù của giới lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam được coi là bí mật quốc gia; nhưng người ta đều tin chắc rằng, dù chỉ với đồng lương khoảng 500 mỹ kim một tháng, tài sản của cá nhân và gia đình họ đều ở mức hàng tỷ đô la. Chẳng hạn như ông Nguyễn Tấn Dũng hiện có xấp xỉ khoảng 2 tỷ mỹ kim. Đó là chưa tính đến 150 triệu mỹ kim mà tập đoàn Nhôm Trung quốc đã kín đáo biếu xén gia đình ông, để cho họ được khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, như giới ngoại giao và tài phiệt ở Hà Nội đã xìm xầm từ mấy tháng nay.

Trước sự ta thán của nhân dân, để chống tham nhũng, mấy năm trước, ông Nguyễn Tấn Dũng đã ban hành quy định tổ chức các cơ quan phòng chống tham nhũng. Ngay sau đó, người ta đã vạch trần ra sự khôi hài và bịp bợm của tấn tuồng này, vì những người khét tiếng tham nhũng đều được chỉ định đứng đầu Ban phòng chống tham nhũng từ trung ương đến địa phương. Như vậy thì có khác nào giao trứng cho ác? Và đây chính là mối lo của người dân Việt Nam cho đến nhiều thế hệ sau này. Bởi vì khi mà tệ nạn tham nhũng ngày càng thâm căn cố đế, thì xã hội sẽ mỗi ngày một suy đồi. Khi đất nước có tự do dân chủ sau này, các nỗ lực canh tân con người, canh tân xã hội sẽ khó khăn hơn bội phần. Không những thế, những tham nhũng, vơ vét của quan chức hiện nay đối với các khoản vay mượn, hay tiền viện trợ từ nước ngoài phải hoàn trả, sẽ là những món nợ khổng lồ mà con cháu Việt Nam đời sau phải nai lưng trả cả vốn lẫn lãi mẹ lãi con…

Trước tệ nạn tham nhũng, đã có nhiều người, hoặc là để bảo vệ quyền lợi của mình, hoặc là có tâm huyết chống tham nhũng, đã làm đơn tố cáo hay công khai hưởng ứng phong trào chống tham nhũng,… Nhưng hầu hết họ đều trở thành nạn nhân của sự trả thù, trù dập của nhà nước. Điều này cũng dễ hiểu, vì những kẻ đầu sỏ tham nhũng đang cầm đầu các uỷ ban phòng chống tham nhũng chẳng đời nào có thực tâm chống tệ nạn này vì những lý do thiết thân của họ. Nhất là khi họ thừa biết những hô hào chống tham nhũng của nhà nước chỉ là “hô hào cuội”, nên chẳng đời nào họ thực tâm thực hiện trên nền tảng vốn dĩ là “cuội” đó. Ngoài ra, hơn ai hết, 15 “ông vua không ngai” trong bộ chính trị đảng Cộng Sản Việt Nam, kể cả ông Nguyễn Tấn Dũng, hoặc những người có chức có quyền, đang giàu xụ, không ai lại muốn mất đi những cơ hội kiếm chác béo bở, cũng như phải bạch hoá những tài sản mà họ đã vơ vét, bán chác tài nguyên quốc gia hoặc hút máu hút mủ của nhân dân.

Như vậy phải chăng người dân đành phải bó tay cam chiụ mãi?? Gần đây người ta thấy xuất hiện trên internet một trang mạng có tên khá ngộ nghĩnh, trang mạng “Nó Kìa” (http://clbnokia.wordpress.com). Mặc dù mới xuất hiện, nhưng trang mạng “Nó Kià” đã được rất nhiều trang mạng và các cơ quan truyền thông khác giới thiệu, nối kết, với những lời giới thiệu đầy thiện cảm như: “Ý tưởng hay”, “việc thực tế cần làm”, v.v….

Vậy, Nó là gì? Nó là ai?… Những câu hỏi này được trả lời ngay trong phần giời thiệu của trang mạng vừa nêu:

“Nó Kià! Nó Kià! Nó là gì? Nó là ai?

“Nó là những ngôi nhà hoành tráng, những cơ sở làm ăn to lớn của các quan chức nhà nước đầy đặc quyền đặc lợi.

Nó là hiện thân, là kết quả của những vụ tham nhũng, cướp đoạt tài sản của người dân hay ăn cắp tiền viện trợ của nước ngoài.

Nó Kìa là một trang web chuyên lập các hồ sơ tham nhũng tại Việt Nam, trang web này đăng tải các hình ảnh, thông tin về những cán bộ, quan chức tham nhũng trong đảng CSVN.

Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu mức độ giàu sang, quan liêu của cán bộ, đảng viên nhà nước CSVN đến mức độ nào.

Hãy tiếp tay diệt trừ tham nhũng theo lề bên trái!!

Nó Kìa là trang mạng của toàn dân Việt Nam tố cáo tham nhũng.”

Theo sau lời giới thiệu là hình ảnh cụ thể những biệt thự “hoành tráng” của các “đầy tớ nhân dân”; những người luôn luôn khoe rằng, họ thấm nhuần tư tưởng và gương đạo đức Hồ Chí Minh”; những người mà đồng lương chính thức chỉ ba, bốn trăm mỹ kim một tháng…..

Khi vào xem trang mạng “Nó Kìa”, chỉ cần qua hình ảnh các ngôi biệt thự, người ta có thể mường tượng ra được đời sống xa hoa của các ông “vua đỏ” từ trung ương đến địa phương ra sao, bên cạnh đại đa số nhân dân cùng khổ chạy ăn từng bữa, ốm đau bệnh tật không có thuốc men, thậm chí phải bán con cho bọn buôn người… Từ đó mới thấy khẩu hiệu “công bằng xã hội”, một mục tiêu đấu tranh chính mà chế độ thường rêu rao, nó trái ngược với thực tế như thế nào…. Cũng từ đó sẽ suy ra được tài nguyên phong phú của quốc gia, mà lẽ ra là của chung của dân tộc, nay hầu như cạn kiệt vì đã… biến thành những gì và ở trong tay ai? Cũng từ đó mới hình dung ra được nhân dân cùng khổ bị bóc lột, ăn chặn như thế nào, để rồi con cháu mai sau phải trả nợ ra sao!!!

Tóm lại, tương tự lời kêu gọi ngay từ bây giờ phải lập hồ sơ, hình ảnh của những kẻ gian ác, đang hàng ngày kìm kẹp, hà hiếp nhân dân; lời kêu gọi toàn dân thu thập và góp sức thiết lập hồ sơ tham nhũng như sáng kiến của trang mạng “Nó Kìa” (hoặc của những tổ chức vô vị lợi khác) là những chuẩn bị vô cùng thiết thực và cần thiết, để sau này, khi đất nước có tự do dân chủ, dân tộc Việt Nam có sẵn những chứng cứ cụ thể, khởi đầu cho việc thực hiện công bằng và công lý trong tinh thần nhân bản của dân tộc.

Ngô Văn


Đọc Báo Cáo Của Nguyễn Tấn Dũng

23/10/2009

arton9134-9d277Ngày 20 tháng 10 vừa qua, Quốc hội CSVN nhóm họp phiên thứ 6 của khóa 12. Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Cộng sản Việt Nam đã thay mặt chính phủ đến đọc một bản báo trong buổi sáng ngày khai mạc quốc hội. Bản báo cáo dài 12 trang, đầy chữ. Ông Dũng đã tốn gần 1 tiềng đồng hồ để kể lể về thành tích: “đẩy lùi lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, ngăn chận kịp thời đà suy thoái kinh tế và sau cùng là tiếp tục kiên định quyết tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế thành công trong năm 2010”.

Theo thông lệ, những loại báo cáo của thủ tướng chính phủ trước các đại biểu quốc hội là văn kiện mang tính phô trương hơn là đi vào thực chất vấn đề. Tất cả được viết rất tròn và giải quyết xong mọi chuyện dù có khó khăn lúc đầu. Mục tiêu là để các đại biểu và cử tri toàn quốc an tâm phó mặc cho đảng và nhà nước giải quyết. Tuy nhiên, trong bản báo cáo lần này, có lẽ vì không thể nào tiếp tục che dấu những sự thật hãi hùng đang bị phơi bày trước công luận nên Nguyễn Tấn Dũng đã phải thú nhận một số những “hạn chế, yếu kém” của mình trong bản báo cáo.

Trong phần đánh giá về tình hình kinh tế xã hội năm 2009, Nguyễn Tấn Dũng đã nêu ra hai vấn nạn:

Một là do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt nhất là ba lãnh vực: 1/ Đầu Tư; 2/ Xuất khẩu; và 3/ Du lịch đã suy thoái một cách nghiêm trọng.

Hai là tình hình yếu kém ở trong nước hiện nay nảy sinh từ ba nguyên do: 1/ Hậu quả của tình trạng lạm phát từ cuối năm 2008; 2/ Những yếu kém của tình trạng quản lý kinh tế; và 3/ Sự gia tăng chống đối của các thế lực thù địch.

Sau phần đánh giá tình hình, Nguyễn Tấn Dũng đề cập đến khả năng khắc phục những yếu kém, trong đó có hai điểm đáng chú ý là: 1/ Đã thành công trong việc ngăn chận đà suy thoái kinh tế, giám sát chặt chẽ chính sách tiền tệ nền kinh tế vĩ mô ổn định; 2/ Công tác đối ngoại đạt kết quả toàn diện, giúp nâng cao vị thế trên trường quốc tế và xây dựng quan hệ hữu nghị tốt với Trung Quốc. Tuy nhiên, Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, Hà Nội đang phải trực diện hai vấn nạn rất lớn, nếu không khắc phục thì sẽ gặp khó khăn. Đó là làm sao tiếp tục giữ vững được an ninh chính trị và trật tự xã hội. Do đó, khi đề cập về mục tiêu hướng tới năm 2010, Nguyễn Tấn Dũng đã cho rằng nhà nước CSVN phải gấp rút giải quyết một số việc, trong đó có ba điểm đáng lưu ý là:

1/ Nâng cao chất lượng tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô để ngăn chận lạm phát trở lại. Đặc biệt để khắc phục tình hình xuất khẩu sang các thị trường Âu Mỹ suy giảm do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, ông Dũng đưa ra chủ trương rằng Việt Nam sẽ tập trung mở rộng thị trường nội địa, coi trọng thị trường nông thôn, thực hiện hiệu quả cái gọi là “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

2/ Bảo đảm an sinh xã hội và cải thiện đời sống người dân. Trong đó, ông Dũng nhấn mạnh đến nhu cầu gọi là “hỗ trợ và khuyến kích người nghèo chủ động vươn lên thoát nghèo” nhưng không nói rõ chính sách làm như thế nào. Ngoài ra, ông Dũng cũng đã vạch ra ước mơ rằng nhà nước của ông sẽ tập trung đầu tư vào hai khu công nghệ cao ở Hòa Lạc và Sài Gòn với hai ngành mũi nhọn là tin học và sinh học, để làm động lực cho nhu cầu xây dựng Việt Nam là một quốc gia công nghệ cao vào năm 2020.

3/ Giữ vững ổn định chính trị và bảo đảm an ninh quốc phòng. Ông Dũng đã nêu quyết tâm: “chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh ngăn chận làm thất thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”. Trong khi đó, ông Dũng vạch ra hai sách lược: Tiếp tục vận động các nước công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường để dễ dàng trao đổi bình đẳng và đẩy nhanh tiến độ đàm phán và ký nghị định thư về phân giới cắm mốc, hiệp định về quy chế quản lý biên giới với Trung Quốc.

Lược qua một số điểm chính trong bản báo cáo của ông Nguyễn Tấn Dũng nói trên, tuy ông Dũng đề cập khá nhiều về khía cạnh chấn chỉnh kinh tế và nhu cầu giữ trật tự xã hội, người ta thấy rằng, Cộng sản Việt Nam đang phải đối diện bốn vấn đề lớn do chính chế độ gây ra trong vòng 2 thập niên vừa qua.

Thứ nhất là chính sách huy động đầu tư ngoại quốc để hướng nền kinh tế theo mô hình xuất khẩu đã thất bại sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Việt Nam đang bắt chước Trung Quốc chuyển nền kinh tế theo mô hình giảm xuất cảng, hướng vào thị trường nội địa. Nhưng với hệ thống phân phối còn quá yếu kém, nhất là ở các khu vực nông thôn và hơn 67% dân số còn sống trong điều kiện quá nghèo (theo tiêu chuẩn của Liên Hiệp Quốc là dưới 200 Mỹ Kim/đầu người) làm sao có tiền để tiêu xài, do đó lối thoát khỏi cuộc khủng hoảng của nền kinh tế Việt Nam vẫn còn là một dấu hỏi lớn.

Thứ hai là Việt Nam đang thiếu hụt tín dụng trầm trọng do sự giảm sút ngoại tệ (suy giảm xuất cảng, lượng kiều hối giảm) và do sử dụng 8 tỷ Mỹ Kim để thay vì kích cầu lại kích cung qua việc hỗ trợ cho các công ty quốc doanh tái phối trí sản xuất. Hiện nay Hà Nội đã vay 500 triệu Mỹ Kim từ Ngân hàng Á Châu, 500 triệu Mỹ Kim từ Nhật Bản và sắp tới sẽ vay thêm 1 tỷ Mỹ Kim từ Ngân Hàng Thế Giới nhưng chắc chắn không đủ đáp ứng với tình hình suy thoái kinh tế còn đang tiếp tục. Hệ quả trước mắt cho thấy là Việt Nam sẽ còn phải đối diện với cơn khủng hoảng tài chánh vào cuối năm nay.

Thứ ba là ông Dũng nhắc lại nhiều lần trong bản báo cáo về mối bận tâm của chính phủ CSVN về việc đối phó với hai vấn đề: an ninh chính trị và trật tự xã hội. Nói một cách dễ hiểu là nhà nước Cộng sản Việt Nam sẽ trực diện ngày một nhiều hơn những chống đối chính trị của lực lượng dân chủ, đồng thời nhức đầu giải quyết các cuộc phản kháng của quần chúng trên mặt xã hội. Mối lo của ông Dũng bắt nguồn từ những bất ổn xã hội và chính trị liên tục và trên đà gia tăng của vài năm gần đây. Chỉ nhìn vào 8 tháng của năm 2009 vừa qua, Cộng sản Việt Nam đã phải đối phó rất nhiều biến động như: vụ Tam Tòa ở Vinh, vụ Bát Nhã ở Lâm Đồng, vụ các trí thức trong Viện IDS tự giải thể để chống Quyết Định 97 của Nguyễn Tấn Dũng – một quyết định đã tạo ra làn sóng bất mãn mạnh mẽ của giới trí thức trong nước; vụ bắt giữ 3 Bloggers dẫn đến sự phê phán của thế giới, đặc biệt là Hạ Viện Hoa Kỳ đã thông qua Nghị Quyết 672 hỗ trợ chiến dịch tranh đấu cho tự do internet tại Việt Nam; vụ bắt giữ các nhà dân chủ của đảng Dân Chủ Việt Nam; vụ tránh né xét xử 9 nhà dân chủ về việc treo biểu ngữ kêu gọi chống Trung Quốc mà dùng điều 88 để kết án một cách hồ đồ và phi lý tạo sự bất mãn lớn trong dư luận… Chính những nỗi lo này mà ông Dũng đã phải “hạ quyết tâm” làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực phản động.

Thứ tư là ông Dũng đã không có một chữ nào nhắc đến vấn đề tranh đấu nhằm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh hải ở Biển Đông, cũng như bảo vệ sự an toàn sinh mệnh và nguồn sống của ngư dân Việt Nam đang đánh cá trong Thềm Lục Địa 200 hải lý của Việt Nam đối với Trung Quốc. Đây là vấn đề nóng nhất hiện nay ở trong nước mà ông Dũng và chính phủ của ông hoàn toàn không đề cập đến. Sự né tránh này của ông Dũng cho thấy là thành phần lãnh đạo Hà Nội đã bán mình cho Bắc Kinh.

Tóm lại, tuy bản báo cáo của Nguyễn Tấn Dũng đọc dài dòng nhưng nó được tóm vào hai ý chính: 1/ Không đụng chạm những vấn đề tranh chấp tế nhị Biển Đông đối với Trung Quốc để tiếp tục được làm nô bộc của Bắc Kinh; 2/ Chủ động phát hiện và kiên quyết tiêu diệt các lực lượng chống đối để giữ vững quyền lực chính trị. Cả hai ý đồ nói trên của ông Dũng sẽ không thể nào thực hiện được vì các hành động tay sai, bán nước và chà đạp lên quyền sống của người dân đã bị người dân Việt Nam thấy rõ và đang chống đến cùng.

Lý Thái Hùng


Đi Tù Vì Yêu Nước

22/10/2009