Đất nước và Nhân dân

28/12/2009

Về tác giả: Nhà văn Đào Hiếu, sinh năm 1946 ở tỉnh Bình Định, gia nhập Đảng Cộng sản năm 1968. Tham gia phong trào sinh viên miền Nam chống Mỹ, sau năm 1975 ông làm việc tại báo Tuổi Trẻ và NXB Trẻ TP. HCM. Năm 2008, ông công bố trên mạng hồi ký “Lạc Đường”, gây nhiều tranh luận.

Có vẻ như “Đất nước” và “Nhân dân” là hai phạm trù rất gần gũi, rất thân thiết, có quan hệ máu thịt với nhau, thậm chí không thể tách rời nhau.

Từ hàng ngàn năm rồi, nhiều người đã hiểu như vậy, đã cảm nhận như vậy.

Tôi sẽ không viết được những dòng chữ có vẻ nghịch lý sau đây nếu không sống dưới chế độ “cộng sản”.

Sự kỳ quái của chế độ đó đã đánh thức mọi phản kháng trong tư duy, làm chúng ta vỡ mộng và vỡ luôn những nếp nghĩ khác.

Và một trong những phát hiện bàng hoàng nhất là: Đất nước và Nhân dân là hai thực thể có khả năng trở thành thù địch.

1

Từ thuở bé, con người đã gắn liền với đất nước mình qua lũy tre làng, dòng sông, bến đò, những bờ biển thơ mộng, những núi non hùng vĩ, những danh lam thắng cảnh… tất cả, góp phần tạo ra tâm hồn, tính cách và tình yêu của mỗi người, từ đó hình thành những mối dây ràng buộc, nhờ thế mà khi có ngoại xâm thì cả dân tộc cùng đứng lên, đồng lòng đánh đuổi chúng, giành lại từng tấc đất, từng ngọn rau…

Đó là những điều có thật. Đã từng xảy ra. Những tấm lòng yêu nước, những hy sinh vì tổ quốc, những anh hùng dân tộc… tất cả đều có thật.

Duy chỉ một điều nghịch lý, đó là: trong lịch sử nhân loại CHƯA BAO GIỜ ĐẤT NƯỚC LÀ CỦA NHÂN DÂN.

Ngày xưa, khi vua Vũ diệt được Trụ, dựng nên nhà Chu, thiên hạ ai cũng tôn phù.

Chỉ có Bá Di, Thúc Tề chê là bất nghĩa, không thèm ăn thóc nhà Chu, cùng nhau lên núi Thú Dương, hái rau độ nhật.

Sau, có người đến bảo: “Nhà Chu đã trị thiên hạ, thì nơi nào lại chẳng phải của nhà Chu, ăn rau núi này chẳng phải ăn rau nhà Chu ư?”

Hai ông nghe nói, bèn nhịn đói cho đến chết.

Rõ ràng thời ấy người ta quan niệm sông núi, kể cả rau rừng đều “của nhà Chu” nào phải của nhân dân.

Ngay cả hạt thóc là do mồ hôi nước mắt của nông dân làm nên mà cũng được gọi là “thóc nhà Chu” thì nhân dân còn lại gì?

Trong bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà”, Lý Thường Kiệt cũng xem đất nước Việt Nam là của vua chúa nhà Lý khi ông viết: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” thì thật sự cũng đã “xí phần” cho triều đình hết rồi, còn gì cho đám dân đen nữa?!

Thời phong kiến, đất nước là của nhà vua nên mới có cha truyền con nối, nên trung quân và ái quốc mới gộp làm một.

2

Ngày nay người ta nói nhiều đến dân chủ.

Có vẻ như đất nước không còn là của “nhà Chu” nữa, có vẻ như “Nam quốc sơn hà” không còn của “Nam đế” nữa.

Vậy chắc là của nhân dân rồi!

Thử xem có phải vậy không?

Nếu cái đất nước giàu tài nguyên này, cái quê hương “rừng vàng biển bạc” này là của nhân dân, sao nhân dân nghèo khổ đến vậy?

Tại sao?

Sao những chàng trai nông thôn chân lấm tay bùn vẫn ở nhà tranh vách đất?

Sao những cô gái quê phải lên thành phố bán thân?

Sao bác phu xích lô vẫn còng lưng đạp mỗi ngày, sao lớp trẻ con nhà lao động phải nhễ nhại mồ hôi trong các khu chế xuất, các mỏ than, các nhà máy chế biến hải sản, lâm sản, nông sản… chỉ để kiếm chưa đến một trăm đô la mỗi tháng?

Sao nhân dân lao động vẫn phải chui rúc trong những căn nhà tồi tàn chật hẹp?

Nếu rừng là vàng, biển là bạc thì vàng ở đâu, bạc đi đâu, mà mỗi lần làm đường, xây cầu lại phải vay vốn ODA, vay vốn Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ Thế giới… để xảy ra những vụ tham nhũng nhục nhã như PMU18, như vụ cầu Văn Thánh, như vụ PCI Nhật Bản… và hàng ngàn vụ khác?

Nếu đất nước này là của nhân dân thì sao dầu mỏ khai thác nhiều như vậy mà dân không giàu? mà Đảng lại giàu?

Nếu đất nước là của nhân dân sao lại chỉ có một nhúm các tập đoản tài phiệt phất lên nhờ kinh doanh rừng, biển, đất đai và lúa gạo… trong khi nhân dân thì bị cướp đất, rừng thì bị phá, thóc lúa thì bị thương lái ép giá, đẩy nông dân vào kiếp sống bần cùng?

3

Có quá nhiều bằng chứng để nói rằng trong lịch sử chưa bao giờ đất nước là của nhân dân.

Đất nước chỉ là của nhân dân trong các học thuyết, trong văn thơ, trong âm nhạc.

Không phải của nhân dân

Đất nước chỉ là của nhân dân trong hoài niệm tuổi thơ, trong tâm tình chôn nhau cắt rún.

Trên thực tế đất nước bao giờ cũng là tài sản riêng của giai cấp cầm quyền.

Ngày xưa thì đất nước là của vua chúa, ngày nay đất nước là của các chính quyền.

Còn nhân dân?

Ngoại trừ số ít giàu có ở các đô thị lớn, đại đa số nhân dân lao động, công nhân, nông dân, công chức, tư chức ăn lương…chỉ có được một căn nhà nhỏ, một mái tranh nghèo, một cái ổ chuột tối tăm trong xóm lao động hay dưới gầm cầu.

Những nhà hàng, những khách sạn sang trọng, những vũ trường xa hoa, những cửa hàng lộng lẫy kia không phải của nhân dân.

Những khu đô thị mới, những resorts, những sân golf, những câu lạc bộ quần vợt, những cuộc thi hoa hậu liên miên kia… không bao giờ là của nhân dân.

Những mỏ bô-xit, mỏ than, mỏ dầu trị giá hàng ngàn tỉ đô la kia, những lâm sản, hải sản vô tận kia…chưa bao giờ là của nhân dân.

Nhân dân chỉ có cái tổ chim bé nhỏ của mình, nhân dân chỉ có vại cà, con mắm, củ khoai, rẫy bắp, chiếc xích lô đạp, chiếc xe máy để chạy xe ôm, để đi làm mỗi ngày.

Nhân dân không biết nghe nhạc giao hưởng, không biết hát Opera, nhân dân chỉ biết rao: “Cháo huyết đây!” “Bánh mì nóng giòn đây!” “Báo mới đây!” “Mài dao mài kéo đây!”…

Nhân dân không có vé vào xem thi hoa hậu hoàn vũ hay xem trình diễn thời trang, nhân dân chỉ có năm ngàn đồng đủ trả một cuốc xe ra đứng đầu đường Huyền Trân Công Chúa và gọi: “Đi chơi không anh?”.

Nhân dân không có ai bảo vệ, chỉ biết chạy trối chết khi bị công an đem xe tới xúc về đồn để “làm sạch thành phố.”

Trong thời chiến, bao giờ nhân dân cũng bị xem như một thứ “tài nguyên”, một “nguồn cơ bắp dồi dào” sẵn sàng cung cấp cho chiến trường để giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh mang danh nghĩa “giải phóng” “chống ngoại xâm” “thánh chiến” “vệ quốc”…

Tội nghiệp cho hàng trăm thế hệ những người lính đã ngã xuống trong các cuộc “chiến tranh thần thánh” ấy để rồi cuối cùng đất nước lại lọt vào tay một nhúm “đồng hương” chuyên nghề vơ vét.

Đất nước đã bị cưỡng đoạt.

Giờ đây, đối với nhân dân Việt Nam, nếu đất nước có còn được chút ý nghĩa, chính là vì nó đang ôm giữ trong lòng nó xương cốt của những người thân đã chết vì một lý tưởng hoang đường và một ước mơ không bao giờ có thật.

4

Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa, rồi Trường Sa.

Vài trăm người biểu tình bị đàn áp, bị bắt, bị đe dọa.

Nhiều người hỏi tôi: “Sao không thấy ông viết về Hoàng Sa, Trường Sa mà chỉ viết về nhân quyền, về dân chủ?”

Chẳng lẽ tôi lại phải trả lời như thế này:

“Vì hai hòn đảo ấy người ta đã dâng cho Tàu rồi. Ai đòi lại được? Mà nếu như có đòi được thì cái lãnh thổ giàu tài nguyên ấy cũng đâu phải của nhân dân. Hai hòn đảo ấy cũng sẽ là tài sản của những kẻ cầm quyền và bọn tài phiệt, cũng sẽ bị chúng chia chác nhau mà ăn thôi.”

Đào Hiếu

Nguồn: Vietcatholic.net


Công Ty Cổ Phần “Thiếu Lâm Tự”

27/12/2009

Ở Trung Quốc, có lẽ ai cũng biết chùa Thiếu Lâm là một trong những tụ điểm sinh hoạt chính của tổ chức có tên là Tam Tự Ái Quốc. Nói nôm na, đây là ngôi chùa chính của giáo hội Phật giáo quốc doanh Trung Quốc. Nghĩa là tính chất tôn giáo, mục tiêu thờ tự, cũng như không khí tu hành chẳng còn là bao. Tuy vậy, khi nghe tin ngôi chùa này sẽ trở thành công ty cổ phần Thiếu Lâm Tự vào năm 2011, nhiều người dân Trung Quốc vẫn cảm thấy mất mát thêm một phần tâm linh và văn hóa lớn; như họ đã từng đau xót khi các di tích văn hóa lâu đời của Trung Hoa bị tiêu hủy trong các đống lửa của Cách Mạng Văn Hóa kéo dài đến các di tích bị nhận chìm để xây đập nước Tam Hợp.

Tờ Đông Phương Tảo báo (Oriental Morning Post) ở Thượng Hải, hôm 15/12/2009 đã gởi ký giả đến phỏng vấn Hòa thượng Phương trượng Thích Cửu Tín, chủ trì chùa Thiếu Lâm. Khi được hỏi về tin Thiếu Lâm Tự sắp trở thành công ty cổ phần hữu hạn, vị chủ trì chùa Thiếu Lâm phủ nhận sự việc. Thay vào đó, ông nói rằng trong 5 năm gần đây đất nước Trung Quốc phát triển mạnh, nên Thiếu lâm Tự cũng phải thay đổi cách làm để cùng với chính quyền đưa đất nước đến cường thịnh. Đây là một nghĩa vụ, chẳng có gì phải bàn hay thắc mắc.

Ngạc nhiên trước câu trả lời này, ký giả báo Đông Phương đào sâu hơn vào vấn đề. Kể từ năm 1988, Thiếu Lâm Tự đã đăng ký hoạt động như một thương hiệu. Ai muốn vào chùa lễ Phật hay ngắm cảnh quang phải trả tiền vào cửa. Mỗi ngày trong chùa có ít nhất hai suất biểu diễn môn võ Thiếu Lâm do các sư đảm nhiệm với vé vào cửa khá đắt, gần 50 mỹ kim cho người lớn và phân nửa giá cho trẻ em dưới 15 tuổi. Khi thấy những “sô” biểu diễn võ thuật quá ăn khách, chùa lập luôn mấy đoàn để đưa đi các nước trình diễn. Nội tiền vào cửa viếng chùa hàng năm cũng thâu được khoảng 150 triệu đồng tiền Nhân dân tệ, tức hơn 2 triệu mỹ kim. Thêm vào đó là tiền bán trà, quà lưu niệm và các suất biểu diễn võ Thiếu Lâm. Nhiều Phật tử trong vùng tâm sự họ không còn coi Thiếu Lâm Tự là cửa Thiền nữa kể từ khi chùa lấy tiền vào cửa. Riêng đối với Phương trượng Thích Cửu Tín, các Phật tử đó tặng cho ông hai biệt hiệu: Hòa Thượng Chính Trị (vì ông đang là Đại biểu Quốc Hội), hay Hòa Thượng Kinh Tế.

Vào ngày 16 tháng 12 năm 2009 tờ Đông Phương vẫn tiếp tục loan tin Thiếu Lâm Tự sẽ trở thành công ty cổ phần vào năm 2011. Theo tờ báo này thì đây là sự bàn tính và quyết định giữa chính quyền thị trấn Đăng Phong (đơn vị quản lý hành chánh chùa Thiếu Lâm) với một công ty du lịch Hồng Kông vào ngày 8/12/2009. Không có sự tham dự của bất kỳ một tổ chức tôn giáo nào trong cuộc họp này. Chỉ sau khi phiên họp kết thúc, chính quyền địa phương mới thông báo cho chùa biết về quyết định này bằng một thông tri, theo đó thì tổng cộng số vốn của công ty cổ phần Thiếu Lâm Tự là 100 triệu đồng nguyên. Phía hãng du lịch Hồng Kông góp 51%, chính quyền thị trấn Đăng Phong góp 49%. Các cán bộ, quan chức cao cấp chính quyền thị trấn Đăng Phong phân tích: “Tên tuổi Thiếu Lâm Tự đã nổi tiếng thế giới qua các phim kiếm hiệp, võ thuật. Nếu lên kế hoạch một cách chu đáo thì rất dễ kéo người nước ngoài đến du lịch. Hiệu quả kinh tế do Thiếu Lâm Tự đem lại rất lớn chắc chắn sẽ đóng góp vào sự phát triển của đất nước nói chung và thị trấn Đăng Phong nói riêng, tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân địa phương. Vì lợi ích chung nên sự quyết định của chúng tôi, tức là chính quyền thị trấn Đăng Phong, là đúng theo tinh thần xây dựng, phát triển đất nước.”

Một cảnh trong phim Thiếu Lâm Tự do Hòa thượng Thích Cửu Tín thủ diễn

Hiển nhiên nếu dự tính trên thành sự thì nguồn lợi thu được từ tiền vào cửa, tiền bán quà lưu niệm, tiền vé các suất biểu diễn võ Thiếu Lâm và hơn 60 võ đường ở khắp nơi trong thị trấn Đăng Phong với trên 5 vạn võ sinh sẽ đều đi vào tay các quan chức thị trấn Đăng Phong chứ không nằm lại ở chùa như hiện nay. Và cũng hiển nhiên không kém, Phương trượng Thích Cửu Tín lập tức khẳng định rằng Thiếu Lâm Tự không phải là tài sản riêng của thị trấn Đăng Phong. Đây là tài sản chung của cả nước nên chính quyền Đăng Phong không có quyền tự ý quyết định về việc thành lập công ty Thiếu Lâm Tự. Việc này phải có sự chỉ đạo từ chính quyền Trung ương. Hòa thượng Cửu Tín cũng đem các luật lệ về tôn giáo ra giải thích và quả quyết các quyết định vừa qua của chính quyền Đăng Phong là sai trái và không có hiệu lực. Theo ông, luật lệ đã quy định hoạt động tôn giáo bao gồm cả nỗ lực duy trì các di tích, danh lam, thắng cảnh để bảo tồn văn hóa và triển khai hiệu quả ngành du lịch. Chính quyền địa phương có nhiệm vụ hợp tác với các tôn giáo trong vấn đề này mà thôi.

Theo nhận xét của các nhà hoạt động xã hội ở Hoa lục thì có vẻ phía Hòa thượng Cửu Tín yếu thế hơn. Vì từ năm 1988, Thiếu Lâm Tự đã chính thức trở thành một cơ sở thương mại, nên các diễn tiến gần đây chỉ là sự tranh chấp giữa 2 khuynh hướng làm ăn mà thôi. Và tập thể các quan chức đang nắm quyền tại Đăng Phong chắc chắn có nhiều trọng lượng hơn cá nhân Hòa thượng Cửu Tín, bất kể cái nhãn Đại Biểu Quốc Hội của ông. Và sau hết, luật lệ tại Trung Quốc chỉ được dùng khi cần thiết bởi phe cánh mạnh đang nắm quyền để loại trừ phe yếu mà thôi.

Có điều lạ, nhiều người Việt Nam chúng ta đọc mẫu tin Trung Quốc này lại không thấy ngỡ ngàng. Trên khắp nẻo đường đất nước hôm nay, đang có quá nhiều cảnh quen thuộc — từ chính sách cướp các nơi thờ tự để kinh doanh đến cách đối sử với các tu sĩ quốc doanh khi không còn nhu cầu. Về mặt này, xem ra nhà nước không kỳ thị một tôn giáo nào.

Ngô Văn


Thư gửi ông Nguyễn Tấn Dũng về việc bắt giam nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ

26/12/2009

Kính gửi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng
c/o Embassy of Vietnam
1233 20tb Street NW #400
Washington, DC 20036

Thưa Thủ Tướng Dũng

Tôi viết thư nầy để tiếp tục bày tỏ những quan tâm của tôi đã đề cập trong lá thư trước, về vấn đề bắt và cầm tù nhà văn Trần Khải Thanh Thủy.

Tôi vẫn hết sức lo lắng về tình hình đàn áp tại Việt nam. Vấn đề bắt bớ Trần Khải Thanh Thủy dựa trên những điều luật thật khắc khe chỉ vì cổ xúy cho dân chủ một cách ôn hòa là sự việc không ổn.

Không những vấn đề này phản bác lại lời cam kết tôn trọng nhân quyền của chính quyền Việt Nam, mà nó còn vi phạm điều 19, Công ước Quốc tế về quyền Công dân và quyền tư do Chính trị, bảo đảm tự do ngôn luận mà Việt nam đã ký kết tôn trọng.

Ngoài việc nhà cầm quyền Việt nam đã không tỏ ra nhân nhượng với những quan điểm bất lợi cho chế độ, tôi còn cảm thấy bất bình về những báo cáo về cách đối xử với Trần Khải Thanh Thủy, một người đang mang bệnh tiểu đường, lao phổi mà bị từ chối chăm sóc thuốc men trong lúc bị giam tù. Luật Quốc tế quy định rằng, các tù nhân được quyền điều trị sức khoẻ mà không bị phân biệt đối xử vì tình trạng pháp lý của họ, và tôi kêu gọi Ông bảo đảm rằng nhà cầm quyền Việt Nam chấp hành những nguyên tắc nầy, để cho Trần Khải Thanh Thủy được sự chăm sóc sức khoẻ cần thiết.

Tôi muốn nhận được những tin tức cập nhật mới nhất về tình hình sức khỏe của Trần Khải Thanh Thủy càng sớm càng tốt.

Tôi mong đuợc sự trả lời nhanh chóng của Ông.

Nay thư,
Zoe Lofgren
Dân biểu Quốc Hội Hoa Kỳ


Suy niệm Nhân lễ Giáng sinh 2009

24/12/2009

Kính thưa Anh Chị Em Tín hữu cùng Toàn thể Đồng bào Việt Nam

Như thường lệ, vào cuối tháng 12 lạnh giá, khi ngày đông chí đến gần trong khung cảnh thiên nhiên ảm đạm, lễ Giáng sinh lại về với nhân loại qua những bài thánh ca vui tươi, những món quà tặng thân thương, những cảnh trang hoàng rực rỡ, và nhất là qua những tâm tình nhân ái và những lời chúc tốt đẹp. Đó là vì Giáng sinh mang lại một sứ điệp quan trọng, một niềm hy vọng lớn lao: Đức Thượng Đế, Vị Chủ tể Càn khôn, Đấng Sáng tạo muôn loài và là Cha từ ái của vạn vật, đã sai Con của Ngài xuống thế, hóa thân làm con của loài người, để trở nên cây cầu nối kết trời với đất, sợi dây thắt chặt Thiên Chúa với nhân loại trong một tình yêu vĩnh cữu.

Những ý nghĩa cao siêu ấy khiến chúng ta thoạt nghĩ đến cảnh giáng trần đầy huy hoàng và lắm oai phong của một vì Thiên Tử, trong chốn cung điện rực rỡ và giữa quần thần sang trọng. Thế nhưng kỳ lạ và ngược đời thay, theo tường thuật của sách Tin Mừng, Đức Giêsu, vị Thiên Tử ấy, lại giáng sinh trong một hoàn cảnh thê lương và một khung cảnh nghèo hèn. Vì sao như thế? Phải chăng là để qua đó hòa đồng với số phận con người trong những gì là thông thường nhất, phổ quát nhất, bất hạnh nhất? Phải chăng là để qua đó cất lên tiếng nói kêu mời nhân loại dưới thế hãy sống tinh thần yêu thương chia sẻ của Thiên Chúa trời cao?

Đúng thế, sinh ra vào thời tao loạn, trong một đất nước bị ngoại bang Rôma xâm lấn, lớn lên giữa một xã hội bị thống trị bởi những tay sai của đế quốc cường quyền, và rồi kết thúc cuộc đời với một bản án được tuyên ra bởi hai thế lực chính trị đó chỉ vì làm chứng cho sự thật và bênh vực cho lẽ phải, Đức Giêsu đã muốn chia sẻ số phận của những con người, của những dân tộc -như tại đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta- vốn đang sống trong nỗi phập phồng vì lân bang xâm lấn dần đất tổ, vì những kẻ trị nước khiếp nhược trước ngoại nhân. Ngài đã muốn chia sẻ số phận của những ngư dân đất Việt đang từng ngày bị ngăn chận, sách nhiễu, cướp bóc, tàn sát bởi những hải đội của một nước lớn ôm mộng đế quốc, bá quyền. Ngài đã muốn chia sẻ số phận của dân tộc trời Nam đang rên siết dưới ách thống trị của những kẻ chẳng kể gì là tình nghĩa đồng bào, tình tự dân tộc, tình thương con người, một chỉ biết giữ vững quyền lực nhờ sự hỗ trợ của lân quốc hùng mạnh! Ngài đã muốn chia sẻ số phận của những tâm hồn dũng cảm đấu tranh cho công lý và bênh vực cho sự thật, đang chịu đọa đày trong cảnh quản chế, giữa chốn tù lao, bởi những thế lực thống trị chủ trương bạo lực và gian tà!

Sinh ra trong cảnh xa ngôi nhà cha mẹ, bơ vơ ngay giữa quê hương bản quán, nằm nơi máng cỏ tanh hôi, Đức Giêsu đã muốn chia sẻ số phận của bao thanh niên thiếu nữ nghèo khó, phải tìm đường ra xứ người, để bán sức lao động trong cảnh nhọc nhằn, dưới tay ngoại nhân bóc lột, thậm chí bán cả nhân phẩm trong kiếp tình nô, giữa phận tôi đòi nhục nhã! Ngài đã muốn chia sẻ số phận của bao gia đình đang sống yên hàn bỗng một hôm bị đuổi khỏi nhà cửa ruộng vườn, hoặc bị buộc phải nhận một số tiền bồi thường rẻ mạt, hầu nhường đất cho những chương trình gọi là quy hoạch đô thị, xây khu chế xuất, lập vùng công nghiệp, để rồi sống lây lất vô gia cư, vô nghề nghiệp, vô địa táng! Ngài đã muốn chia sẻ số phận của những nông dân rời bỏ ruộng vườn, lên thành phố lập nghiệp, làm quần quật vẫn không đủ ăn, sống chui rúc trong những khu nhà ổ chuột, chuốc lấy muôn vàn hiểm nguy cho sức khỏe, cho sinh mạng!

Sinh ra trong cảnh bị vua Hêrôđê độc dữ truy lùng hòng tàn sát, phải chạy trốn ra xứ người tìm đường lánh nạn, Đức Giêsu đã muốn chia sẻ số phận của bao cá nhân, gia đình, liều chết chạy trốn một chế độ phi nhân đàn áp, đem sinh mạng đổi lấy tự do, dù phải bỏ thây trong rừng sâu biển cả, tan nát cuộc đời trên vịnh Thái Lan, để rồi hôm nay sống nơi đất lạ xứ người, mà lòng nhớ thương da diết quê cha đất tổ! Ngài đã muốn chia sẻ số phận của hàng chục triệu con Hồng cháu Lạc, tuy sống trên dải đất hình chữ S, nhưng vẫn như kẻ kiều cư, vì bị tước mất mọi nhân quyền cơ bản, không thể làm chủ vận mạng và tương lai của mình, cũng như không thể góp phần xây đắp tiền đồ của dân tộc, của đất nước!

Ôi, thân phận Con Thiên Chúa làm người sao vẫn được nối dài cho đến hôm nay nơi những anh em trần thế của Ngài, sao vẫn mang tính thời sự giữa cõi nhân sinh sau hơn cả mấy ngàn năm, nhất là tại vùng đất nước Việt xa cách xứ Palestine của Ngài nửa vòng trái đất?

Phải chăng vì thế mà Sứ điệp Giáng sinh vẫn còn phải vang vọng giữa nhân loại, trên mọi quốc gia, đặc biệt nơi dân tộc đang sống bên bờ biển Thái bình dương này? Sứ điệp đó chính là loài người hãy yêu thương nhau, xa thì xét như là đồng loại đồng chủng, gần thì xét đồng hương đồng bào. Sứ điệp đó chính là loài người hãy biết sống với nhau như anh em, con của cùng một Cha trên trời, trong ngôi nhà chung là địa cầu hay đất tổ, hãy cùng giúp nhau xây dựng một xã hội trong đó không cá nhân nào bị ruồng bỏ, không kẻ nghèo nào bị khinh khi, không kẻ yếu nào bị coi thường, không kẻ giàu nào được ưu đãi, không kẻ mạnh nào được ngang nhiên; trong đó ai cũng có quyền được thăng tiến cuộc sống, được lắng nghe tiếng nói, được tôn trọng nhân phẩm, được bảo vệ tín ngưỡng, được phát biểu sự thật, được bênh vực công lý, được thỏa lòng yêu thương, được định đoạt tương lai của mình và được góp phần xây dựng đất nước.

Ôi Thiên Chúa trên trời, Đấng tự thấy mình được vinh hiển khi con cái thế nhân sống xứng phận con người trong tự do, trong hạnh phúc, trong triển nở, xin thương nhìn đến đất Việt và dân Việt chúng con mà đổ tràn xuống chân lý, công bình, tình thương và tự do trong đêm Giáng sinh và mùa Giáng sinh này.

Việt Nam, mùa Giáng sinh năm 2009
Lm Phêrô Phan Văn Lợi

http://radiochantroimoi.wordpress.com


Việt Nam trở mặt với Facebook

24/12/2009

Hà Nội – Giống như một ngôi làng vĩ đại với dân số 86 triệu người mà tưởng như ai cũng quen biết nhau, hay chỉ một hai bước nối là biết hết nhau, Việt Nam là một nơi lý tưởng cho việc kết nối xã hội. Với đặc tính như vậy, đây có thể là một nơi mà những nhà thiết trí các trang mạng kết nối xã hội kiểu như Facebook mơ tới, nhưng cũng lại hoàn toàn có thể là nơi mà chẳng ai cần đến những trang mạng như vậy.

Quả thực, trong 10 tháng đầu năm vừa rồi, xem ra đây là một môi trường lý tưởng cho Facebook khi cố gắng đặt chân vào Việt Nam, với việc khai trương vào đầu năm 2009, và hiện có 3 triệu thành viên. Mạng sau đó còn nhận được một cú hích tăng trưởng số lượng thành viên vào tháng 7, khi Yahoo cho ngừng hoạt động mạng nhánh Yahoo360 ở Việt Nam của mình.

Nhưng rồi, từ tháng 11, người sử dụng Facebook bắt đầu gặp các khó khăn khi truy cập vào trang này. Nhân viên tại các công ty cung cấp dịch vụ Internet cho biết chính phủ đã ra lệnh chặn mạng.

Thoạt đầu các viên chức chính phủ từ chối bình luận. Nhưng đến ngày 1 tháng 12 thì nữ phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga đã phải thú nhận rằng nhà nước đã chặn một số trang mạng do “bị dùng để phát tán các thông tin có hại cho Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.”

Facebook ư? Nơi mà các thành viên dùng để trao đổi các bài viết và nhận định, đưa ra các câu đố về những loại băng cột tóc, hay tìm xem những tấm ảnh chụp chú đười ươi con mới đẻ ở Vườn thú Berlin? Tại sao lại là Facebook?

Người sử dụng Facebook Việt Nam vốn giành nhiều thời gian và công sức để tạo nên những trang cá nhân của mình nay phản ứng dữ dội. Một số cho rằng lý do thực sự sau lưng việc chặn này là nhằm ép người sử dụng chuyển sang một mạng kết nối xã hội khác do Việt Nam quản lý là mạng YuMe.vn. Với 2 triệu thành viên, đây là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Facebook.

Nhưng cũng có một số người Việt, cả trong và ngoài nước, đã bắt đầu sử dụng Facebook cho các mục đích vận động chính trị. Sau khi nhà đối kháng trẻ tuổi Nguyễn Tiến Trung bị bắt giữ với các cáo buộc tội danh chính trị vào hồi tháng 6, bạn bè anh đã thành lập một nhóm Facebook mang tên “Hãy thả Nguyễn Tiến Trung” (Release Nguyen Tien Trung) với hàng trăm người ủng hộ.

Có những nhóm Facebook thì kêu gọi ủng hộ những vị sư sãi và ni cô thuộc tu viện Bát Nhã mới bị Công An dùng vũ lực đánh đập và đuổi khỏi nơi tu tập do có các bất đồng với Giáo hội Phật giáo của nhà nước. Các nhóm khác thì ủng hộ Luật sư Lê Công Định, người bị bắt hồi tháng 6 vì những hoạt động ủng hộ dân chủ và phản đối các dự án khai mỏ quặng Bô-Xít nhôm ở vùng cao nguyên Trung phần do các công ty Trung Quốc điều hành hoàn toàn.

Đảng Việt Tân, một tổ chức đấu tranh cho đa nguyên đa đảng cũng có một trang Facebook của mình.

Việt Nam nhận hàng tỉ đô la mỗi năm qua các chương trình viện trợ phát triển chính thức từ các nước dân chủ, và lệnh cấm trang mạng đó là một hành động mang tính biểu trưng về tình trạng đàn áp tự do ngôn luận mà các nhà tài trợ của Việt Nam vốn luôn luôn phản đối. Trong hội nghị tham vấn các nhà tài trợ được tổ chức ở Hà Nội vào tháng 12, vấn đề Facebook đã được đưa vào nghị trình.

Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội, ông Michael Michalak đã phát biểu trong hội nghị rằng “Đây không phải là vấn đề tán chuyện qua mạng của thanh niên trẻ, mà đó là câu hỏi về quyền của người dân được trao đổi thông tin với nhau, chia sẻ các ý tưởng và thực hiện các thương vụ của mình.”

Quốc hội Hoa Kỳ hồi tháng 10 đã thông qua dự luật kêu gọi Việt Nam hãy chấm dứt những hạn chế tự do Internet. Nghị viện Châu Âu cũng đã thực hiện việc tương tự vào cuối tháng 11.

Facebook do vậy đã trở thành một điểm nóng nữa trong mối tương quan vốn đã phức tạp của Việt Nam với mạng Internet, và do đó, với thế giới.

Từ khi bắt đầu chuyển hướng nhắm tới một nền kinh tế xuất khẩu từ cuối những năm 80, Việt Nam đã cố đối phó với việc phải cân bằng nhu cầu thông thương với thế giới và mong muốn quản lý che chắn luồng thông tin trong nước của mình.

Những cố gắng đó ngày càng trở nên khó khăn vì việc sử dụng mạng Internet toàn cầu trở nên gần như phổ quát. Hồi tháng 3, chính quyền đã ra sắc lệnh mới cấm những Blogger đưa ra ý kiến liên quan đến chính trị.

Trong vòng 1 năm trở lại đây đã có ít nhất 6 Blogger bị giữ, bắt bớ hay thậm chí kết án tù, và một người thứ 7 nữa bị cho nghỉ việc đang là một nhà báo.

Việt Nam hiện cố gắng theo bước kiểm duyệt thông tin bằng những cách thức mà Trung Quốc đang làm, nhưng lại không có được các nguồn lực to lớn như Trung Quốc, ví dụ như khiển dụng một bộ máy to lớn bao gồm tới 50 ngàn nhân viên kỹ thuật thành thạo chỉ để quản lý và kiểm duyệt thế giới trực tuyến.

Do vậy chính phủ Việt Nam đã tỏ ra bất nhất với những cố gắng kém cỏi trong việc ngăn chặn các trang mạng với những nội dung có khả năng gây bất lợi chính trị cho mình. Các trang mạng như Tiếng nói Hoa Kỳ (Voice of America) và Tổ chức Giám sát Nhân quyền (Human Rights Watch) thường bị chặn bởi nhà cung cấp dịch vụ Internet này, nhưng lại truy cập được từ mạng của nhà cung cấp dịch vụ Internet khác.

Những kỹ thuật vụng về mà chính phủ sử dụng để ngăn chặn Facebook thực ra rất dễ khắc phục với các phương thức đi vòng khá đơn giản.

Cô Đặng Hương Trà, 23 tuổi, cho biết: “Tôi chỉ bị khó khăn truy nhập vào trang mạng trong mấy ngày đầu khi trang mới bị chặn mà thôi, nhưng giờ thì đã có cách.”

Một người từng sử dụng Facebook khác là anh Nguyễn Văn Tùng, 28 tuổi, thì nói mình biết vì sao chính phủ lại ngăn chặn trang này. “Tôi nghĩ rằng nếu những ai sử dụng các trang mạng đó để bàn bạc về các vấn đề chính trị, hay nói những gì bất lợi cho chính quyền, thì nhà nước sẽ chặn họ.”

Trong hội nghị tham vấn các nhà tài trợ, các nước viện trợ Tây phương đã cố gắng thuyết phục Việt Nam rằng nếu không có sự tự do trao đổi thông tin thì khả năng cạnh tranh của Việt Nam sẽ trở nên yếu kém.

Nhưng Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc lại phát biểu rằng chính phủ Việt Nam đã làm đủ những gì cần để cải thiện tình hình tự do thông tin, cụ thể là với kết quả con số người sử dụng Internet tiếp tục tăng.

Các nước tài trợ là những nước phản đối sự hạn chế tự do Internet của Việt Nam cùng với việc giam tù những Blogger, sau đó lại đã hứa tiếp tục tăng các khoản viện trợ phát triển chính thức trong năm tới lên từ 5 tỉ thành 8 tỉ đô la.

DPA

CTM phỏng dịch

Nguồn: EarthTimes


Khóc Lãnh Đạo

24/12/2009

Trong các dịp xuất hiện trước công chúng, hầu hết lãnh tụ của những chế độ độc tài hiện nay đều bám rất chặt vào các kịch bản chi tiết đã soạn từ trước, đặc biệt là các bài diễn văn. Ngày nay, với phương tiện Internet chớp nhoáng và những ám ảnh suốt từ sau các biến cố đổi đời tại Đông Âu và Liên Sô, những bài học “sẩy một ly đi một dặm” lại càng đẩy các nhà độc tài còn lại trên trái đất vào những kỷ luật khắt khe, theo đúng từng lời nói, từng cử chỉ, từng diễn tiến của mọi buổi lễ lạc trong kịch bản. Gần đây nhất, ngay cả giới ký giả quốc tế đầy kinh nghiệm tháp tùng phái đoàn Tổng thống Mỹ Obama thăm Trung Quốc còn phải ngạc nhiên trước sự gia tăng mức độ tự kiểm soát của toàn ban lãnh đạo Hồ Cẩm Đào so với những năm trước. Và Bắc Kinh cũng từ chối luôn các cơ hội cho ông Obama tự do tiếp cận với dân Tàu. Thật vậy, đã hết rồi cái thời thoải mái của các lãnh tụ “xuất khẩu thành trường ca” 3, 4 giờ liền giữa các sân vận động nắng chói chang, mà nổi tiếng nhất là bác Fidel Castro. (Dĩ nhiên bác Fidel đứng nói trên khán đài trong bóng mát).

Chính vì thế, mà những dịp phát biểu không cầm giấy là những cửa sổ cơ hội hiếm hoi ngày nay để người ta đọc được ít nhiều suy nghĩ trong đầu các lãnh tụ chuyên chế. Khá may mắn cho người Việt Nam, chỉ trong vòng không đầy 2 tháng, người ta đã được nghe 2 lần phát biểu “ứng khẩu” của ông Nguyễn Minh Triết, Chủ Tịch Nhà Nước CHXHCNVN. Lần thứ nhất tại Cuba vào đầu tháng 10/2009 (có lưu giữ tại http://www.youtube.com/watch?v=fJtl4lApWIU). Và lần thứ nhì tại đại hội có tên “Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất” vào cuối tháng 11/2009 (có lưu giữ tại http://www.youtube.com/watch?v=IbHnOIA4qR0&feature=channel (phần 1) và http://www.youtube.com/user/missthuymiss#p/u (phần 2).

Hai bài phát biểu kể trên đã tạo nhiều phản ứng trong công luận người Việt, đặc biệt trên các diễn đàn mạng Internet. Nhiều đoạn viết, bài viết lên tiếng bất mãn về cách trình bày “quá dưới trung bình” của một người đang giữ vai trò Chủ Tịch của một nước. Cũng có người phản đối cách dùng chữ “cu ba” mà họ cho là ông cố tình dùng để đùa giỡn, và xem đó là quá tục tĩu trong một buổi tiệc ngoại giao. Tuy nhiên, trong bài này người viết xin đề nghị chúng ta tạm để qua bên những phê phán đó và chỉ tập trung vào cốt lõi những suy nghĩ của ông Triết. Và hy vọng qua đó chúng ta thấy được ít nhiều những tư duy cơ bản của thành phần lãnh đạo Việt Nam hiện nay.

1. Tầm nhìn ra thế giới bên ngoài

Có thể nói điều đầu tiên làm nhiều người thấy lạ khi nghe ông Triết bộc bạch là sự kiện ông nhắc lại lịch sử cận đại. Đã lâu lắm rồi các lãnh đạo CSVN tránh nói đến những từ ngữ nhạy cảm của thời “chống Mỹ cứu nước”. Ông Triết thì không.

Nếu nghĩ tốt cho ông Triết — nghĩa là cứ xem cách diễn tả chất phát của ông là biểu hiện của sự chân thật — thì người nghe sẽ dễ thấy ông không chỉ nhắc lại lịch sử mà còn có vẻ như vẫn đang thành thật sống ở thời điểm của hơn 30 năm trước. Ông vẫn thấy Cuba và Việt Nam đang “thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới”. Nghĩa là vẫn không khác gì cái thời cả Havana và Hà Nội cùng xung phong làm công cụ đắc lực cho Liên Sô tấn công Tây Phương. Đây là thời Chiến Tranh Lạnh mà 2 siêu cường Mỹ, Liên Sô đánh nhau bằng các “đại diện”. Ông Triết có vẻ vẫn hãnh diện về những ngày tự nguyện cầm ngọn cờ đầu của thế giới cộng sản thực hiện tham vọng nhuộm đỏ toàn vùng Đông Nam Á bằng sức lực và sinh mạng của người Việt Nam… Hình như ông Triết quên hẳn rằng chính Liên Sô cũng không còn trên trái đất này nữa.

Ông Triết còn khoe rằng có bà thủ tướng New Zealand nói nội các của bà là thế hệ lớn lên cùng lúc với chiến tranh Việt Nam; ông thủ tướng Na Uy bộc bạch đã từng đi quyên góp ủng hộ cho Việt Nam trong thời gian chiến tranh; ông tổng thống Áo khoe đã từng sửa lưng Bộ trưởng quốc phòng Mỹ McNamara (cũng trong thời gian chiến tranh Việt Nam), v.v… Dù các nhân vật ông Triết kể tên có nói như vậy hay không, hoặc ông có hiểu lầm ý của họ hay không, có lẽ không quan trọng. Điều quan trọng ở đây là trạng thái đầu óc của ông Triết rõ ràng dừng lại trong quá khứ, không đến được hiện tại.

Vì ở hiện tại, cái hào quang của hơn 30 năm trước hầu như đã tắt lịm kể từ sau khi bức tường Bá Linh xụp đổ vào cuối thập niên 80 để cả nhân loại chứng kiến tận mắt số phận của mấy trăm triệu nạn nhân sống dưới các chế độ cộng sản tại Đông Âu và Liên Sô suốt từ sau Thế Chiến II. Và liên tiếp từ đó đến nay nhân loại có khá đủ tin tức về cách cai trị phản nhân bản của 4 nước độc tài cộng sản còn sót lại trên trái đất — Tàu, Việt, Bắc Hàn, CuBa. Có thể nói, nhắc đến Việt Nam ngày nay, ngoài giới buôn bán ra, hầu hết nhân loại chỉ nghĩ ngay đến những con số nạn nhân mà cuốn Sách Đen Cộng Sản ghi lại về trường hợp Việt Nam; chỉ biết lắc đầu về những chỉ số tham nhũng mỗi năm mỗi cao hơn mà các tổ chức nghiên cứu kinh tế quốc tế thu thập; chỉ biết kinh ngạc về nền luật pháp Việt Nam với bức hình bịt miệng Cha Lý tại tòa; chỉ thấy ngán ngẩm khi đọc tin nhà cầm quyền Việt Nam lại thu hẹp thêm quyền sử dụng Internet, cho công an đánh phật tử đang tu học, đánh giáo dân đang xây nhà nguyện, đánh tín hữu đang học kinh thánh tại gia, v.v… Những tin tức đó đã dần dần biến thành những văn bản chính thức, như Danh Sách các Nước Cần Đặc Biệt Quan Ngại, vô số các thư phản đối của đủ loại dân cử, chính phủ, và tổ chức nhân quyền quốc tế. Và gần đây nhất là các cảnh báo của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc khi đánh giá tình trạng nhân quyền tại Việt Nam vào tháng 5/2009, cũng như Nghị Quyết của Quốc Hội Âu Châu về tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam tháng 11/2009.

Vì thế, có người giải thích sự thành thật sống trong quá khứ của ông Nguyễn Minh Triết là phản ứng tâm lý chạy trốn hiện tại. Hiển nhiên ở vị trí Chủ Tịch Nước, khó mà ông Triết không biết cái thực tế ê chề đang diễn ra. Ông chọn cách bịt tai, chạy về miền quá khứ, vừa để động viên chính mình trong ánh hào quang cũ vừa để có chút thanh thản trong lòng vì khỏi phải đối diện với các bắt bẻ của hiện tại. Quả thật, các sự kiện ở hiện tại khó tranh luận quá vì có nói sao đi nữa vẫn không tránh né được điểm kết luận sau cùng. Đó là thiểu số lãnh đạo hiện nay không còn lý do gì để độc quyền cai trị dân tộc Việt Nam nữa. Vô số dữ kiện cho thấy cái nhóm rất nhỏ này đang bất chấp tình trạng suy hoại đất nước về mọi mặt — từ y tế, giáo dục, đến kinh tế và lãnh thổ — chỉ để duy trì lợi quyền riêng rất lớn cho họ.

Tuy nhiên cách chạy trốn hiện tại chỉ có tác dụng giải khuây ngắn hạn. Sau những lúc tìm quên đó, các lãnh tụ Việt Nam vẫn phải đối diện với thực tại. Và có lẽ chính vì biết thế giới đang nhìn mình chỉ là những anh du đảng mặc vét-tông, biết họ có quá nhiều hồ sơ xấu về mình, nên ông Triết khá ngỡ ngàng khi thấy thế giới cho ông những giây phút đứng ngang hàng. Ông kể:

“Mới tháng 9 vừa rồi tôi đi dự hội nghị các nhà lãnh đạo của 15 nước hội đồng bảo an LHQ. Mình đến cuộc họp này với một cái tư thế là mạnh mẽ, mà mình là người có tiếng nói mạnh mẽ, chưa bao giờ mình lại cất cao tiếng nói như thế. Và ngay Đại hội đồng LHQ vừa rồi, kỳ họp 64. Cũng ở diễn đàn đó mình lại lên tiếng, mình phê phán cái việc là cấm vận CuBa. Và trong cái cuộc họp đó, ngoài những cái ý kiến chung thì tôi có thêm một cái ý kiến: tôi hoan nghênh ông Obama. Ổng tuyên bố là ổng sẽ đóng cửa nhà tù Guatanamo mà. Nhưng mà tôi nói rằng ông Obama ơi, vấn đề này là khó lắm đó. Tôi chúc ông phải nỗ lực để thực hiện cho bằng được cái này. Tôi nói mà tôi nhìn Obama, tôi thấy ổng … ahhh … cũng chăm chú lắm, cũng lắng nghe. Như thế là mình vừa động viên Obama, nhưng mà mình vừa muốn phân hóa cái … cái nội bộ của ổng … Như vậy đó, tôi muốn nói với các đồng chí với quý vị rằng cái vai trò, cái vị thế của mình bây giờ cũng ngang hàng với người ta, cũng nói năng cũng đúng mức đàng hoàng …”

JPEG - 37.7 kb

Khổ nỗi không có ai nhắc cho ông Triết biết là cử tọa tại LHQ, với các điều khoản sinh hoạt của thế giới văn minh, cũng đành ngồi nghe các lãnh tụ khét tiếng “du đảng” khác phát biểu trước và sau ông, từ Mahmoud Ahmadinejad của Iran đến Kadafi của Libya và Hugo Chavez của Venezuela. Riêng lãnh tụ Kadafi – nhà độc tài từng cho đặt bom nổ phi cơ chết 270 người tại Anh quốc năm 1988 – còn dẫn theo một đoàn bảo vệ hùng hậu chỉ bao gồm toàn lính nữ và đòi cắm một dãy lều giữa thành phố New York để ông sống như giữa sa mạc Libya. Thế giới chỉ đành … mỉm cười. Nhưng với các lãnh tụ kể trên thì: “người ta không ’dám’ chửi, tức là mình phải ngon”.

JPEG - 41.3 kb

Có người dễ tính hơn cho rằng cảm giác của ông Triết chỉ phản ảnh loại tâm lý của một cậu trai mới tới tuổi dậy thì trên chính trường thế giới, nghĩa là đang lẫn lộn trong đầu những ý nghĩ vừa muốn làm người lớn vừa chưa dứt tính trẻ em. Vì chỉ với loại tâm lý đó mới giải thích được kiểu nói cố gắng tự thuyết phục là mình quan trọng vì đã “dám” chạm đến Tổng Thống Mỹ. Rồi liền sau đó lại mừng húm là không thấy ông ấy tức giận gì mình cả.

Nhưng để chính xác và đầy đủ hơn thì có lẽ phải giải thích thái độ của ông Triết qua lăng kính của một người tự ti — tự thấy cá nhân mình và quốc gia mình được đối xử vượt quá giá trị mà mình có. Xin nói rõ một nước nghèo và biết mình nghèo không đồng nghĩa với cảm giác thấy mình thấp kém. Một thí dụ rất rõ là nước Tiệp bé nhỏ (và lại càng nhỏ hơn nữa sau khi tách rời khỏi nước Khắc), nhưng thái độ yêu mến lẫn thán phục của thế giới đối với tổng thống Václav Havel và thái độ của ông Havel đối với thế giới đều khác hẳn. Cảm giác thấp kém ở đây đến từ nhận thức rằng thế giới vừa tươi cười bắt tay vừa xem mình chỉ là một tay du đảng.

Với lăng kính ấy, nếu chuyển từng suy nghĩ của ông Triết ra chữ viết và cũng bằng loại ngôn ngữ chất phát ông thường dùng, có lẽ người ta sẽ đọc được những giòng tiêu biểu như sau:

- Mình chỉ đại diện cho Việt Nam thôi mà họ cho lên đó nói … Vinh dự thật!

- Dù họ có biết mình chỉ đè dân mà lên chứ có ai bầu bán gì, thế mà khi mình nói họ vẫn phải ngồi im mà nghe, vẫn phải quay phim, chụp hình … Trọng lượng của chức danh nặng thật!

- Mình lại còn nhắc đến cả tên họ của Hắn nữa. Tuy khen một câu mình vẫn quèo được một cái … Đảm lược quá!

- Mà Hắn vẫn phải ngồi nghe mới sướng chứ, không dám tỏ thái độ gì hết … Ai có ngờ là mình dám làm điều đó!

- ….

Và thế là tung tăng ra về với ý tưởng “Mình đến với một cái tư thế là mạnh mẽ, mà mình là người có tiếng nói mạnh mẽ, chưa bao giờ mình lại cất cao tiếng nói như thế!”.

Tuy vậy, ông cũng nhận ra một bài học. Nếu ông “nói năng cũng đúng mức đàng hoàng”, nghĩa là thôi hẳn những tuyên bố theo kiểu bất cần người nghe như “Việt Nam: lương tâm nhân loại”, “CNCS: Đỉnh cao trí tuệ loài người”, “Đế quốc Tư bản dẫy chết”, hay “Công nhân tư bản bị bóc lột tận xương tủy”, v.v… thì có vẻ như thế giới không còn coi mình như người điên nữa.

Hiển nhiên việc cá nhân ông Triết cảm thấy tự ti rồi sinh ra tự tôn, tự hào vô căn cớ cũng chẳng sao và chẳng phải là chuyện hiếm hoi. Chỉ khổ nỗi loại tâm lý đó đang là những ngọn đèn dẫn đầu cả nước bước đi. Và càng khổ hơn nữa khi bộ máy bạo lực của nhóm người cương quyết cai trị đất nước lại cấm ngặt bất cứ người dân nào vượt lên trước họ và trừng phạt thẳng tay những ai dám chỉ ra rằng đó là loại tâm lý bệnh hoạn cho tương lai đất nước. Vì khi quá xa lạ với những sinh hoạt và tiêu chuẩn của thế giới văn minh nhưng lại cấm dân không được khôn hơn mình, những người lãnh đạo như ông Triết chỉ còn con đường nhắm mắt bám theo lưng một đàn anh nào đó như Trung Quốc. Và với tâm lý tự thấy thấp kém ở mức đó thì những người lãnh đạo này chỉ có thể đưa đất nước lên đến tới mức làm thuê hay làm học trò của các nước lớn là đã mãn nguyện lắm rồi. Bên dưới những lời lẽ tuyên truyền, họ không thực sự tin dân tộc Việt Nam có thể vươn lên bằng nhân loại. Do đó, ngày nào cả nước còn phải bước đi đằng sau những ngọn đèn này, khoảng cách tụt hậu của Việt Nam so với thế giới chỉ có thể ngày một xa hơn.

2. Cách nhìn vào các vấn nạn bên trong:

Tại Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất, ông Triết biết đại đa số là những người muốn về làm ăn buôn bán tại Việt Nam, do đó mối quan tâm hàng đầu của họ là nạn tham nhũng. Ông cũng biết thế giới đã thu thập khá nhiều dữ kiện về lãnh vực tham nhũng tại Việt Nam và quá nhiều người Việt tại nước ngoài đã đọc các bảng sắp hạng hàng năm về tham nhũng trên thế giới. Vì vậy ông Triết dành khá nhiều thời giờ trong bài phát biểu cho vấn nạn này:

“Chúng ta từ một nước trong chiến tranh, chưa có kinh nghiệm trong quản lý. Là ở nước người ta đó, thì muốn tiêu cực muốn tham nhũng cũng khó vì cái hệ thống luật phát nó chặt chẽ. Còn ở Việt Nam của mình, thì có khi không muốn tham cũng động lòng tham,… Cái người thủ quỹ cứ giữ tiền khư khư ở quỹ lúc nào cũng có số dư, cho nên lúc bí quá thì em mượn một chút, (cử tọa cười). Mượn thì hổng thấy ai đòi hết …(cử tọa cười) thấy hông,… thì em mượn thêm. Chứ hổng phải người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới đâu,… Nói một hồi thì thấy người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới, không phải vậy. Cho nên tôi đề nghị quý vị ở nước ngoài khi nghe những thông tin này rồi nhìn về Việt Nam cũng đừng có hốt hoảng nghĩ rằng sao trong nước mình tiêu cực quá. Mà hồi xưa mấy ổng đánh giặc sao giỏi thế mà bây giờ mấy ổng tiêu cực thế …(ông cười). Đây là quy luật muôn đời … (cử tọa cười). Con người ta trong mỗi người ai cũng có hỉ nộ ái ố hết trơn…. Chúng ta là con một nhà, là con Lạc cháu Hồng, cùng một bọc trứng sinh ra …”

Có lẽ phải đọc nhiều lần cả đoạn phát biểu trên người ta mới hy vọng tìm được câu trả lời của ông Triết cho thắc mắc tại Việt Nam có tham nhũng trầm trọng hay không. Đầu tiên, hình như ông công nhận là tại Việt Nam có tham nhũng nhiều vì không có hệ thống luật pháp chặt chẽ như ở nước khác. Ông xác nhận lần nữa tại Việt Nam có quá nhiều cơ hội tham nhũng đến độ “không muốn tham cũng động lòng tham”. Nhưng lập tức ông thu gọn lại và cho biết tham nhũng là chuyện của những người ở các vị trí thủ quĩ mà thôi. Và như thế thì rất nhỏ. Ông khẳng định luôn rằng không phải “người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới” đâu (Có lẽ ý ông là “giới cầm quyền tại Việt Nam” không tham nhũng nhất thế giới, vì theo định nghĩa thì “thường dân” không có chức quyền thì không thể tham nhũng). Tưởng thế đã yên, bất ngờ ông lại mở rộng số người tham nhũng ra và lần này mở rất rộng. Ông không chỉ nói tham nhũng là một qui luật mà còn cam đoan rằng ai từng vui buồn thương ghét thì cũng từng tham nhũng. Và cử tọa tại đại hội đó cũng không thoát. Ông Triết đột ngột nhắc rằng ông và cử tọa đều mang giòng máu Lạc Hồng. Nên nếu ông có tính tham nhũng thì người Việt tại nước ngoài cũng có tính đó trong máu.

Nhưng dù lòng vòng thế nào đi nữa, thông điệp chính và rất rõ của ông Triết vẫn là tình trạng tham nhũng hiện tại là chuyện chấp nhận được.

Điều mà ông Triết không dám nói rõ hơn là thực tế còn xa hơn lằn mức đó. Các lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN đều đã đồng ý từ lâu là phải cộng sinh với tham nhũng. Thỉnh thoảng đã có một vài cán bộ cao cấp về hưu dám chỉ thẳng vào cốt lõi của vấn đề. Đó là “Diệt hết tham nhũng thì lấy ai điều hành”. Hay nói cách khác, cho phép tham nhũng là cách trả lương hậu hĩnh cho toàn bộ hệ thống cán bộ, viên chức, từ thấp đến cao, đang chống đỡ cho quyền cai trị độc tài của Đảng CSVN hiện nay. Hiển nhiên, có hàng triệu quan chức tham nhũng chứ không phải chỉ những người đang ở vị trí thủ quĩ; và có cả ngàn cách tham nhũng chứ không chỉ đơn giản là lấy cắp tiền quỹ. (Ông Triết có chất phát cách mấy cũng không thể đóng tròn vai “ngây thơ” về điểm này). Thật vậy, nếu không có “ăn” và “ăn lớn” thì mấy ai muốn vào các ngành an ninh, công an thuộc bộ máy đàn áp, hay ngay cả muốn vào Đảng trong thời buổi này, để mang tai tiếng và ác nghiệp. Điều đã trở thành qui luật mà ai cũng biết: Đảng phải dung dưỡng tham nhũng mới có thể tồn tại.

Trên căn bản qui luật đã quá hiển nhiên đó, các cố gắng ngụy biện của bộ phận lý luận Đảng đều dễ bị bẻ gẫy. Chẳng hạn như luận điệu: “Chúng ta từ một nước trong chiến tranh, chưa có kinh nghiệm trong quản lý.” Trước hết, người nói câu này cần được nhắc rằng 34 năm (1975-2009) hòa bình đã dài gấp rưỡi cả cuộc chiến tính từ đầu đến cuối (1955-1975). Người Nhật, Đức, và Nam Hàn mất bao nhiêu năm để không chỉ vượt qua tàn tích chiến tranh mà còn vươn lên hàng đầu của thế giới? Một nhà nước 34 năm sau vẫn dùng lý cớ “một nước trong chiến tranh” để biện minh và liên tục thụt lùi so với các nước chung quanh (chỉ cần so với các nước Đông Nam Á thôi), thì tại sao lại cứ nhất định đòi nắm độc quyền cai trị? Đã đến lúc dân tộc phải chọn một thể chế và những người có khả năng hơn chưa?

Kế đến là luận điểm: “Ở nước người ta đó, thì muốn tiêu cực muốn tham nhũng cũng khó vì cái hệ thống luật phát nó chặt chẽ”. Khi nói được câu đó, hiển nhiên người nói cũng hiểu do đâu mà luật pháp của các nước khác “chặt chẽ”. Chặt chẽ là vì không một ai tại các nước này được phép đứng trên luật pháp, dù có là nữ hoàng, thủ tướng, tổng thống, hay tỉ phú; chặt chẽ cũng là vì ngoài 3 ngành độc lập kiểm soát nhau của chính phủ còn có hệ thống báo chí độc lập và các tổ chức Phi Chính Phủ – Vô Vị Lợi giám sát các lợi ích chung của xã hội, v.v… Tất cả các yếu tố then chốt để bảo đảm tính “chặt chẽ” ấy hiển nhiên đều KHÔNG TỐT chút nào cho sự nắm quyền toàn trị của các lãnh tụ độc tài. Rõ ràng, những người lãnh đạo biết rõ giải pháp để chận và ngăn ngừa tham nhũng nhưng họ chỉ không làm vì nó vi phạm vào qui luật Đảng phải dung dưỡng tham nhũng mới có thể tồn tại. Và thế là người đưa ra nhận xét về “luật pháp chặt chẽ” lại đành mâu thuẫn với chính mình bằng một câu khác: “Ở nước nào cũng có tham nhũng cả”.

Luận điểm bào chữa rằng Việt Nam không có kinh nghiệm hay khả năng quản lý để chống tham nhũng cũng khó thuyết phục được ai. Sau hơn 20 năm kể từ khi mở cửa với thế giới, 1986, mà nhà nước vẫn không học đủ kinh nghiệm quản lý thì tại sao cứ nhất định độc quyền cai trị đất nước? Ngay cả trong trường hợp lãnh đạo nhà nước học chậm đi nữa, thì với mỗi kinh nghiệm quản lý thu thập được hàng năm, con số tham nhũng lẽ ra phải giảm xuống theo hàng năm, chứ không thể liên tục gia tăng như đang thấy hết năm này sang năm khác. Và sau hết, một chế độ có guồng máy nhân sự đủ lớn rộng để kiểm soát ngặt nghèo tới tận tư tưởng, lời nói, chữ viết của từng con người lại không thể theo dõi các đồng tiền, là vật hữu hình sờ mó được, đến từ đâu và đi đâu. Sự kiện này cũng cho thấy số tiền hàng trăm triệu mà thế giới, đặc biệt là 3 nước Bắc Âu, đổ vào suốt gần 20 năm qua để giúp Việt Nam cải tiến hệ thống luật pháp, hành chính đã trở thành muối bỏ biển vì chỉ đẻ ra được các bộ luật dày cộm cho mục tiêu trang trí các văn phòng quan chức lớn.

Tuy ông Nguyễn Minh Triết chỉ nhắc tới nạn tham nhũng, nhưng nếu nhìn rộng ra các vấn nạn khác đang đe dọa trầm trọng xã hội Việt Nam, người ta đều thấy cùng một cách ứng phó tương tự của những người cầm quyền — từ nạn buôn bán trẻ em, suy thoái học đường, tràn lan ma túy và đĩ điếm, đến con số tai nạn thương vong hàng ngày trên cả nước, nạn phá trọc núi rừng, hủy hoại sông nước, v.v.

Trong mọi trường hợp, điều duy nhất họ cần giữ là làm sao để không mất Đảng — hay chính xác hơn là không mất quyền cai trị của cái vòng vài chục gia đình ở thượng tầng. Mọi thứ khác đều là chuyện nhỏ, để lâu rồi sẽ quen.

Kịch bản đối phó với hầu hết mọi vấn nạn vẫn là:

- Trước tiên nói vòng vo để tạo tối đa hoả mù thật lâu về sự hiện hữu của vấn nạn. Bịt miệng những người lên tiếng cảnh báo sớm.

- Khi đã phải chấp nhận là có vấn nạn thật thì lập tức tầm thường hóa nó bằng nhiều cách.

- Cấm ngặt mọi phân tích quá sâu vào cốt lõi vấn đề để không đụng đến các lãnh tụ ở thượng tầng và không đụng đến nguyên do độc quyền cai trị của Đảng.

- Tạo ấn tượng nhà nước đang giải quyết cho dân trong nước và, nếu cần, cho thế giới thấy. Hy sinh một vài “con dê tế thần” khi cần thiết.

- Tuyên truyền những ngụy biện qui trách nhiệm vào các cá nhân chứ không vào cơ chế, không vào Đảng.

- Và quan trọng hơn hết, tập cho dân quen với vấn nạn, và chấp nhận cộng sinh.

Đây chính là mối nguy lớn cho đất nước khi dân tộc chúng ta đang “sống quen” dần với từng quốc nạn – mà nguy hiểm nhất là tình trạng sống quen với nạn xâm thực thâm hiểm từ Phương Bắc, đang gậm nhấm từng phần lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam.

3. Ông Triết không phải là luật trừ

Theo thứ tự bình thường trong hệ thống lãnh đạo các đảng cộng sản, ông Triết chỉ đứng ở hàng số 2. Nhưng theo nhận xét của giới theo dõi tình hình Việt Nam thì nhân vật số 1, Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh, còn yếu hơn cả ông Triết. Ông Mạnh không hề dám rời các bài diễn văn viết sẵn, và trên các bản viết đó chỉ luôn luôn lập lại các bài mà cả chế độ đã ca suốt mấy chục năm qua. Đến nhân vật số 3, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, có lẽ đỡ một chút nhưng cũng không khá hơn bao nhiêu vì khả năng chuyên môn thực sự của ông thuộc về ngành công an. Chỉ cần nghe ông trả lời các câu hỏi của các đại biểu quốc hội một lần, người ta cũng đã có thể cảm nhận được ông có nắm bắt các công việc quốc gia hay không. Gần đây ông Dũng còn đưa cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng ra làm tấm gương sáng cho mình trong việc không hề xử lý kỷ luật một đảng viên nào trong cả hệ thống nhà nước suốt những năm cầm quyền. Điều đáng nói là câu phát biểu về “tấm gương Phạm Văn Đồng” được ông Dũng dùng để trả lời một câu hỏi của đại biểu Quốc Hội về tình trạng phạm pháp nhiều lần của một quan chức cấp tỉnh được nêu đích danh và nói rõ vụ việc phạm pháp. Cũng cần nói thêm Thủ Tướng Phạm Văn Đồng vào cuối đời đã gói ghém cả sự nghiệp của ông bằng câu than thở: ông là người thủ tướng ở chức vị đó lâu đời nhất nhưng cũng là người thủ tướng có ít quyền hạn nhất.

Khi nhìn rõ thực chất khả năng điều hành của 3 lãnh tụ đưong quyền cao nhất đang dẫn dắt đất nước, người ta mới có thể hiểu được thái độ an tâm phó thác, và nhiều phần hãnh diện của cả bộ phận lãnh đạo đảng CSVN khi được các lãnh tụ Trung Quốc chấp nhận cho làm học trò. Có lẽ diễn tả sinh động nhất cho tâm trạng đó là bức hình đầy sung sướng của Phó Thủ Tướng Việt Nam Hoàng Trung Hải khi được bắt tay Thủ Tướng Tàu Ôn Gia Bảo.

PNG - 194.8 kb

Câu hỏi được đặt ra là: để lên được tới các chức vị thượng tầng đó chắc chắn các ông Mạnh, Triết, Dũng đều phải có tài biến báo, xoay trở, đòn phép cao lắm mới leo nổi hết các nấc thang nội bộ. Không lẽ 3 ông có đầy tài năng tranh quyền nội bộ nhưng lại không có các tài năng nào khác? Có người giải thích rằng không phải thế hệ lãnh đạo nào cũng “yếu” như hiện nay. Các lãnh tụ đời trước khá hơn. Sở dĩ 3 “ông lành” này được đưa lên là vì các phe phái tranh chấp vào lúc đó bất phân thắng bại. Để 3 ông này ngồi ở vị trí cao nhất mới bảo đảm an toàn cho mọi phía vì các ông sẽ không làm gì “quá táo bạo”.

Nhưng nếu giải thích như thế thì ai là thành phần đang thực sự điều hành đất nước? Ai thực sự đang lấy quyết định đằng sau sân khấu?

Có lẽ chỉ có 2 giả thuyết tương đối thỏa đáng. Thứ nhất, có thể đang có những người tài, vì lý do nào đó, chịu đứng phía sau để giúp các lãnh tụ Mạnh-Triết-Dũng điều hành. Nhìn vào lịch sử và bản chất của các đảng cộng sản, với những cuộc đạp lên nhau chạy đua vào những chức vụ cao nhất để không chỉ kiếm lợi quyền mà còn để bảo đảm an toàn cho chính mình, người ta khó tin vào giả thuyết hiện có những nhân tài chịu đứng sau và đứng dưới. Và nếu nhìn lại các quyết định của tân thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bãi nhiệm hàng loạt các chuyên gia có tâm huyết ngay khi ông lên nhậm chức, người ta lại càng khó tin vào giả thuyết trọng dụng người tài phía sau.

Như vậy chỉ còn giả thuyết thứ nhì là cả nước đang được điều hành từ xa qua loại “quan thái thú” như Nguyễn Chí Vịnh, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục 2 Bộ Quốc Phòng, sau khi cả Bộ Chính Trị Đảng CSVN đã nhận Bắc Kinh làm thầy và làm người bảo trợ. Nhiều chỉ dấu chứng minh cho giả thuyết này đã xuất hiện hàng ngày trên sách, báo, đài, trang mạng, pa-nô của nhiều ban ngành nhà nước CSVN và còn đang hiện rõ hơn nữa trước thềm đại hội XI của đảng CSVN.

Đây quả là một tai họa lãnh đạo và sẽ để lại vô số khóc hận cho nhiều thế hệ con cháu Việt Nam tương lai!

Vũ Thạch


Nhìn lại chủ quyền lãnh thổ năm 2009

22/12/2009

Quan hệ Việt-Trung vẫn nhức nhối trong tâm khảm những người Việt Nam yêu nước và đầy lòng tự trọng. Khi những bức xúc về động thái bành trướng mang đầy tính thủ đoạn tàn nhẫn và thâm độc của Trung Cộng nhằm thôn tính lãnh hải, biển đảo Việt Nam còn dữ dội trong lòng người Việt, thì sau một hồi vòng vo đầy toan tính, chính quyền Việt Nam quyết định cho Trung Cộng khai thác quặng nhôm trên Tây Nguyên. Mặc dù dự án này đã bị nhiều tầng lớp trong dân từ trí thức, tướng lãnh đến đông đảo nhân dân các giai tầng phản đối kịch liệt dưới nhiều hình thức. Phải nói, chưa có một dự án nào của chính phủ Việt Nam lại bị phản ứng chống đối quyết liệt như vậy trong nhân dân. Đây là lần đầu tiên mà sự phản ứng từ phía dân chúng lên cao độ và được nhiều sự đồng nhất như vậy. Nguyên do đến từ sự phẫn nộ của những người Việt Nam yêu nước trước thái độ nhu nhược bấy lâu của nhà cầm quyền Việt Nam đối với những hành động ngang ngược chà đạp lên đạo lý của Trung Cộng.

Vì đâu mà nhà nước Việt Nam có thái độ nhu nhược trước lợi ích dân tộc, đất nước cũng như ý chí chính đáng của đông đảo các giai tầng nhân dân như vậy?

Trong những loạt bài có chủ đề “Làm thất bại âm mưu diễn biến hoà bình’’ của Học Viện Chính Trị Quân Đội gần đây, những nhà lý luận chính trị quân đội liên tục đưa ra nhiều cảnh báo về sự nguy hại của âm mưu “diễn biến hoà bình”. Trong vô vàn những cảnh báo ấy có những cảnh báo khiến người ta rất ngạc nhiên vì sự suy luận vô lý cũng như quá bênh vực Trung Cộng. Cảnh báo của những nhà lý luận quân sự Việt Nam này cho rằng: “Các thế lực thù địch chống phá nhà nước CHXHCN Việt Nam đã lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại về chủ quyền biên giới, hải đảo nhằm chia rẽ quan hệ khăng khít giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhằm biến Việt Nam thành con đê ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc tràn xuống các nước phía dưới vùng Đông Nam Á, nơi ảnh hưởng của thế lực tư bản đang ngự trị”(*). Cũng khiên cưỡng như vậy, các nhà lý luận chính trị gồm những giáo sư, tiến sĩ mang quân hàm cấp cao này đưa ra một luận thuyết nữa là cần phải tăng cường lợi ích của Trung Quốc tại những vị trí quốc phòng then chốt ở Việt Nam, để nếu như các “thế lực thù địch’’ muốn công phá Việt Nam thì sẽ vấp phải những lợi ích của nước lớn như Trung Cộng; và đó sẽ là “hàng rào phòng thủ vững chắc” của Việt Nam khi toan tính gắn kết quyền lợi của Trung Quốc tại Việt Nam. Từ đó, Trung Cộng vì lợi ích của họ tại Việt Nam, sẽ bảo vệ chế độ hiện tại, một chế độ đang có những chính sách ưu đãi cho họ. Bên cạnh những lý luận vừa kể, các tác giả của Học Viện Chính Trị Quân Đội cũng dựng lên chiêu bài mị dân dưới những cụm từ mỹ miều như “ổn định tình hình chính trị, đối ngoại ôn hoà, 16 chữ vàng….” v.v…. Những lý luận cố tình đi ngược lại lợi ích dân tộc này còn được bồi dưỡng bằng nhiều cuốn sách của nhà xuất bản Chính Trị Trung Quốc, đã được Tổng cục 2 Việt Nam và nhà xuất bản Chính Trị Việt Nam dịch và in ra, nhằm nâng cao chất lượng, bản lĩnh chính trị cho quan chức Việt Nam.

Rõ ràng là nhóm lãnh đạo cấp cao nhất trong bộ chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) đã có sự thoả thuận ngầm về chủ quyền lãnh thổ, có những sự toan tính, mặc cả trên quyền lợi đất nước và dân tộc. Bởi thế, những phản đối về quan hệ Trung-Việt mặc nhiên là điều họ không thích, thậm chí là thù ghét, vì nó đụng tới những mặc cả của họ với Trung Cộng. Nhóm phản động bán nước này không từ bỏ bất kỳ thủ đoạn nào để thực hiện cam kết với quan thầy Trung Cộng bằng nhiều phương pháp; trong đó có cả lý luận, tuyên truyền. Đó là sự bán nước trắng trợn có văn bản, có hệ thống lý luận.

Chính quyền Việt Nam công khai đàn áp những người yêu nước, qua việc bắt giam, bỏ tù và gán ghép cho những người này đủ thứ tội mà chính quyền bịa đặt ra. Riêng trong năm 2009, hầu hết những người bị bắt giữ và xét xử đều có liên quan đến việc phản đối quan hệ bất minh Trung–Việt. Như Lê Công Định với những bài viết kêu gọi lòng tự hào dân tộc trước nạn ngoại xâm, cũng như toan tính chuẩn bị hồ sơ về chủ quyền biển đảo Việt Nam để đưa ra tranh luận trước toà án quốc tế; nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và các bạn treo khẩu hiệu đòi chủ quyền biển đảo; Phạm Thanh Nghiên toạ kháng tại nhà biểu tình ôn hoà với khẩu hiểu “Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam”; các blogger như nhà báo Đoan Trang, Blogger Mẹ Nấm, Người Buôn Gió… in những ấn phẩm kêu gọi ngừng khai thác bauxite và khẳng định chủ quyền biển đảo..; và những nhà báo lên tiếng về chủ quyền, tài nguyên, bị mất việc, mất chức, tước thẻ như Nguyễn Trung Dân, Huy Đức. Những tờ báo bị phạt tiền hay đóng cửa như Vietnamnet, Tuổi Trẻ, Du Lịch… Song song với hành động đàn áp vừa kể, chính quyền Việt Nam còn cho đông đảo mật vụ len lỏi để phá hoại các cuộc biểu tình bày tỏ lòng yêu nước của thanh niên, sinh viên.

Trong khi nhà cầm quyền Việt Nam ra sức đàn áp những người yêu nước, thương dân tộc mình, thì chính quyền Trung Cộng liên tục có những động thái nhắm thực hiện âm mưu thôn tính lãnh hải Việt Nam. Trung Cộng gây sức ép khiến các công ty nước ngoài đang làm ăn trên vùng lãnh hải Việt Nam phải rút lui; Trung Cộng bắn giết ngư dân Việt Nam, bắt giữ đòi tiền chuộc không khác gì bọn cướp biển; Trung Cộng dùng tàu quân sự đâm tàu ngư dân Việt Nam một cách vô nhân đạo, rồi bỏ mặc cho sóng biển; Trung Cộng thành lập chính quyền quản lý hành chính các hòn đảo thuộc chủ quyền Việt Nam;…. Những hành vi của Trung Quốc và chính quyền Việt Nam là sự phối hợp nhịp nhàng. Một bên tiến tới thôn tính, còn một bên thì nỗ lực dập tắt những tiếng nói phản đối việc thôn tính ấy.

Tuy nhiên, trong khi đàn áp những tiếng nói yêu nước đòi khẳng định chủ quyền ấy, chính quyền Việt Nam thỉnh thoảng cũng lên tiếng phản bác hành vi vi phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Cộng. Gần về cuối năm 2009, chính quyền Việt Nam đã cho tổ chức những cuộc hội thảo về vấn đề biển đảo; thậm chí còn mở trang web về biển đảo…. Bức tranh trái ngược màu sắc này lại hỗn độn hơn, khi trang web của Đảng Cộng Sản Việt Nam, do uỷ viên trung ương ĐCSVN Đào Duy Quát quản lý, “nhầm lẫn” đăng bản tin Trung Cộng tập trận trên vùng biển Việt Nam, mà bản tin nói là hải phận của Trung Cộng. Rồi web site của Bộ Công Thương cũng “nhầm lẫn” tương tự. Những sự việc này có phải là “nhầm lẫn” hay không, nếu như chúng ta biết rằng Bộ Công Thương là bộ có nhiều dự án hợp tác với Trung Cộng? Và tờ tạp chí ĐCS đại diện cho tiếng nói của trung ương ĐCSVN, là nơi gắn bó mật thiết với Trung Cộng nhất. Tại sao những tờ báo khác không nhầm lẫn, mà hai cơ quan này lại “nhầm lẫn” tệ hại như vậy? Nếu gọi đây là sự “nhầm lẫn”, thì ý kiến này cần phải được xem xét kỹ.

Trở lại với việc chính quyền Việt Nam có lên tiếng và có vài biện pháp khẳng định chủ quyền biển đảo. Việc làm này là như thế nào? Động cơ có thực chất là như vậy hay không?

Với tính chất độc tài, muốn quản lý cả ý nghĩ và tư tưởng của nhân dân, chính quyền Việt Nam nhận thấy rằng không thể buông lỏng quản lý tinh thần yêu nước. Bất kể phong trào gì, dù chính đáng đến đâu, cũng phải được nhà nước kiểm soát. Bản chất của chính quyền cộng sản độc tài vốn dĩ là vậy. Cho nên, hành động đàn áp những tiếng nói từ phía nhân dân, nhưng rồi cho người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao lên tiếng phản đối, lập ra trang web và cuộc hội thảo, thi đua tìm hiểu biển đảo,… thực chất chỉ là trò dẫn dụ để gom những tiếng nói yêu nước tập trung lại, để chính quyền dễ bề kiểm soát và lái hướng theo chủ ý của mình. Hãy nhìn kết quả của những phong trào yêu nước “quốc doanh” đó đã đạt được những gì sau mỗi việc làm hay chiến dịch như thế? Phải thật tinh tế mới thấy rõ âm mưu nham hiểm, tinh vi và thủ đoạn lường gạt của chính quyền Việt Nam trong việc làm phai nhạt sự phản ứng của nhân dân.

Trấn áp bằng vũ lực, thủ đoạn. Ma mãnh trong những trò làm lệch hướng người phản đối. Tăng cường ngân sách, nhân lực, trang bị cho những kẻ tuyên truyền theo chủ trương của nhà nước. Trả tiền cho những kẻ sẵn sàng bán rẻ lương tâm để chúng len lỏi trong quần chúng nhân dân rỉ rả những luận điệu ma mị,…đảng Cộng Sản cầm quyền tại Việt Nam không từ bỏ bất kỳ một thủ đoạn nào để đạt mục tiêu làm phai nhạt tinh thần yêu nước trong nhân dân; ngõ hầu để chúng tự do mua bán, đổi chác quyền lợi đất nước, dân tộc.

Nhưng, nhìn lại những âm mưu làm tay sai cho Trung Cộng của chính quyền Việt Nam, người ta thấy rằng, dù nỗ lực đến mấy thì kết quả chẳng ra gì. Càng ngày sự phản đối từ phía nhân dân Việt Nam càng lên cao, bất chấp mọi thủ đoạn tinh vi, tàn bạo đến mấy của chính quyền tay sai Trung Cộng. Tiếng nói phản đối lan rộng khắp nơi, ngày một mạnh mẽ hơn. Từ những trang blog, những trang web,….các tiếng nói của lương tâm lên tiếng ngày một nhiều hơn. Cùng với nhiều trang web, blog,… trang web BauxitVietnam do những chuyên gia, trí thức thành lập, cũng đã thể hiện lương tâm của người trí thức chân chính đối với đất nước, công khai lên tiếng phản đối….. Tất cả đã minh chứng rằng, sự gian dối không bao giờ lấn át được sự thật. Nó chứng tỏ sự chán nản, bất phục đối với chính thể tại Việt Nam đã lên đến tột cùng, khi ngày càng nhiều người can đảm đứng lên cất tiếng nói bày tỏ chính kiến của mình. Đó là điều tất yếu của một dân tộc có bề dày hàng nghìn năm chống giặc ngoại xâm, giữ gìn chủ quyền đất nước.

Những tiếng nói từ lương tri của người dân Việt Nam đã đẩy chính quyền tay sai, bán nước cộng sản Việt Nam vào thế bối rối. Những động thái bất nhất của họ, vừa can tâm làm tay sai để đổi lấy quyền lợi cá nhân, lợi ích của nhóm thiểu số cai trị, đã lộ rõ qua những bài viết lý luận nhằm bao che cho việc quan hệ nhún nhường với Trung Cộng, vừa đàn áp nhân dân, lại vừa ấp úng lên tiếng phản đối hành vi xâm lược của Trung Cộng. Điều đó cho thấy rằng, chính quyền cộng sản chưa tìm được lối thoát trong quan hệ với Trung Quốc, sao cho vừa được lợi cho họ lại vừa được lòng dân.

Trong khi hy vọng chờ đợi biến đổi thời cơ, các lãnh đạo cao cấp của đảng cộng sản không biết làm gì hơn là tận dụng những ngày còn ở cương vị quyền lực để đục khoét, vun vén cho túi riêng của mình. Lỡ tình hình có xấu đi, dẫn đến biến động chính trị, thì cá nhân họ cũng có phần béo bở.

Chủ quyền đất nước là điều thiêng liêng. Mọi luận điệu nhằm lung lạc, che dấu, khiến đất nước bị mất đi phần nào lãnh thổ đều không thể chấp nhận được, dù bằng bất cứ câu từ mỹ miều nào, hoặc sự đe doạ nào. Chẳng thế mà cha ông chúng ta đã đổ hàng nghìn năm xương máu để bảo vệ đất nước… Khi chủ quyền đất nước bị đụng đến, mỗi con dân Việt Nam, dù ở bất cứ đâu, bất cứ hoàn cảnh, địa vị nào, đều đồng lòng gìn giữ. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam đương đại có sự thống nhất ý chí từ Việt Kiều hải ngoại và người dân trong nước mọi giai tầng xã hội, như vấn đề chủ quỳên hôm nay.

Là một đảng cầm quyền, không lo được cho vận mệnh đất nước, lại hợp tác với kẻ thù dâng đất đai, lãnh hải hòng giữ vững quyền lợi của mình; hành động bán nước này đang và sẽ ngày càng bị lên án gay gắt. Chính sự ươn hèn này của ĐCSVN là kẻ thù của chính họ, chứ không phải là bất kỳ những cảnh báo nào mà các nhà lý luận cộng sản vẽ vời ra. Không một chế độ nào làm tay sai cho ngoại bang, làm tổn hại đến đất nước mà tồn tại được. Chủ quyền đất nước và vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN có mối quan hệ trực tiếp, ĐCS với cương vị cầm quyền đang cố gắng thoái thác trách nhiệm, đổ lỗi cho hoàn cảnh lịch sử để lại, vin vào những luận điệu ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hoà bình này nọ, để mong bào chữa cho hành vi bán nước của mình. Nhưng dù có lường gạt đến đâu thì chuyện để mất đất đai, lãnh hải của tổ quốc là điều không thể chấp nhận, không bao giờ được dung thứ dù bất cứ lý lẽ bao biện nào.

Năm 2009 là năm nhiều thành công trong công cuộc đòi hỏi giữ gìn chủ quyền đất nước của mọi người dân Việt Nam. Chính vì lo sợ làn sóng phản đối này sẽ tạo áp lực khiến chính quyền Việt Nam có thể thay đổi những cam kết đã thoả thuận giữa hai bên, chính quyền Trung Cộng ráo riết thôn tính dứt điểm các mục tiêu biển đảo của Việt Nam một cách vội vã, điên cuồng và bạo tàn; bất chấp lương tri và luật pháp quốc tế. Sang một năm mới những người Việt Nam có lương tri trước vận mệnh đất nước, dân tộc cần có những tiếng nói, biện pháp rõ ràng hơn nữa để dư luận quốc tế quan tâm, để ngăn chặn những toan tính bán nước của một số bộ phận lãnh đạo, để khuyến khích những người đang do dự phải có quyết định đứng về phía dân tộc. Khi mà toàn dân tộc chúng ta có sự đồng lòng thì không kẻ thù nào xâm lấn, thôn tính được lãnh thổ thiêng liêng của chúng ta.

Chúng ta cũng không quên nói lời tri ân tới những người con Việt Nam ưu tú đã can đảm dấn thân, đã chấp nhận lao tù, bức bách để đấu tranh cho một nước Việt Nam vẹn toàn lãnh thổ trong những năm vừa qua. Lịch sử công bằng sẽ không quên những tấm gương sáng ngời vì đất nước, cũng như không quên những kẻ cõng rắn, cắn gà nhà, mưu toan trục lợi cá nhân trền đầu dân tộc, trên thân mình đất nước.

Rất sớm thôi. Mọi thứ sẽ rõ ràng.

— -

(*) Bài “Âm Mưu, Thủ Đoạn Diễn Biến Hoà Bình Trong Lĩnh Vực Đối Ngoại” của Đại Tá Dương Văn Lượng ( tiến sĩ khoa học và xã hội nhân văn quân sự), trong quyển: ”Phòng, Chống Diễn Biến Hoà Bình ở Việt Nam”, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, tháng 11-2009, trang 189 & 190.

Đông Hà

Nguồn: http://radiochantroimoi.wordpress.com


Phong Trào Dân Chủ Iran

22/12/2009

Những người biểu tình bây giờ đòi hỏi một ‘Cộng Hòa Iran, không phải Hồi quốc Iran.’

Tháng rồi, Tướng Muhammad-Ali Aziz Jaafari, chỉ huy quân Cách Mạng Hồi Giáo, thề sẽ dứt điểm các cuộc biểu tình chống chế độ ở Iran và bẻ gẫy những gì mà ông ta gọi là ‘’dây chuyền của những âm mưu’’. Nhưng tuần này cái ‘’dây chuyền’’ xem có vẻ càng ngày càng mạnh: Sinh viên toàn quốc thách thức vị Tướng này và các chính khách của ông ta bằng cách tổ chức hàng loạt các cuộc biểu tình ở sân trường hay trên đường phố.

Các nhóm đối lập khác nhau thành lập phong trào dân chủ đã kêu gọi thêm một loạt biểu tình nữa vào ngày 27 tháng 12, một ngày thánh trong lịch Hồi giáo Shiite. Trong khi đó, lịch trình chính thức của Cộng Hòa Hồi Giáo gồm có 22 ngày trong suốt thời gian đó chính phủ tổ chức các cuộc diễn hành rầm rộ để phô trương sức mạnh. Từ cuộc bầu cử tổng thống có nhiều tranh cãi hồi tháng sáu vừa qua, phong trào dân chủ, theo chiến thuật võ nhu đạo, đã dùng những ngày lễ chính thức để phản đối chế độ.

Vào ngày Jerusalem, 18 tháng 9, ngày được chính phủ chính thức tổ chức để phê phán nước Do Thái, thì phe Iran đối lập chứng minh cho thấy người Iran không có lý do gì để thù địch với người Do Thái, và nên tập trung vào những chuyện đang xảy ra tại chính nước Iran. Một lời hô hào phổ biến là ‘’Không Hamas, không Hezbollah! Tôi hy sinh mạng sống cho Iran!’’ Một lời khác là ‘’Hãy quên Palestine đi! Hãy nghĩ về Iran!’’

Vào ngày 4 tháng 11, ngày kỷ niệm chiếm giữ tòa đại sứ Mỹ ở Tehran năm 1979, phe Iran tránh xa những hô hào chống Mỹ của chính phủ. Đồng thời, những nhà dân chủ biểu lộ sự giận dữ của họ đối với Nga và Trung quốc, những nước được xem là đồng minh của cộng hòa Hồi Giáo Iran. Một biểu ngữ viết ‘’Tòa đại sứ Nga là một tổ gián điệp!’’

Quan trọng nhất là phong trào của dân chúng đã và đang biến dạng. Phong trào này được khởi động như là một lời phản đối cuộc bầu cử đầy gian lận vừa qua. Và tổng thống Mahmoud Ahmadinejad lại ngồi thêm một nhiệm kỳ nữa. Các hô hào ban đầu của đám đông là ‘’Lá phiếu tôi đâu?’’. Và những người trở thành lãnh đạo phong trào, bao gồm cả Thủ Tướng Mir Hossein Mousavi, đã ráng giữ cuộc phản đối nằm trong phạm vi đòi hỏi đếm lại phiếu và tổ chức bầu cử lại theo đúng luật pháp. Hiện nay, các khẩu hiệu của những người biểu tình không còn nói về sự gian lận bầu cử nữa. Ngày nay nó gồm có ‘’Bọn Độc Tài Đáng Chết, ‘’Tự Do Ngay Bây Giờ,’’ và ‘’Cộng Hòa Iran, Không Phải Cộng Hòa Hồi Giáo!’’ Có một khẩu hiệu nhắm thẳng đến Tồng Thống Barack Obama như sau: ‘’Obama, ông theo Chúng Tôi hay theo Họ?’’

Nói tóm lại, những người biểu tình không còn coi chế độ hiện tại là một chính phủ hợp hiến của quốc gia này nữa.

Cả ông Mousavi và Ayatollah Mahdi Karroubi, một ứng cử viên tổng thống bị thất cử, cố ngăn ngừa các sự công kích vào ‘’Đấng Hướng Dẫn Tối Thượng’’ Ayatollah Ali Khamenei với hy vọng cuối cùng sẽ thương lượng được với ông ta. Theo các nguồn tin thân cận với phe đối lập, một phần của việc thương lượng này là họ hứa sẽ bảo vệ chương trình hạt nhân của Cộng Hòa Hồi Giáo. Đám đông đã phản đối bằng lời hô: ‘’Hãy hủy bỏ kế hoạch chế biến uranium! Hãy làm cái gì đó cho người nghèo!’’

Hiển nhiên phong trào dân chủ không muốn thương lượng với ông Khamenei, người mà họ cho rằng đã phản bội vai trò trọng tài được hiến pháp quy định qua việc vây cánh với ông Ahmadinejad ngay cả trước khi các kết quả chính thức về cuộc bầu cử được công bố. Những người phản đối bây giờ đốt cháy các hình nộm của ông ta, xé nát các bích chương có hình ông ta, và hò hét những khẩu hiệu dữ dội chống lại ông ta. Một khẩu hiệu thường thấy là: ‘’Khamenei là tên sát nhân! Quyền Hướng Dẫn của hắn không có giá trị!’’

Qua các vụ đàn áp tàn bạo những người biểu tình, chế độ đã chỉ làm cho phong trào dân chủ thêm vững chắc. Ngay cả những nhà thương lượng nổi tiếng như Hashemi Rafsanjani, một cựu tổng thống bây giờ là đối lập với ông Ahmadinejad, đã cho thấy rõ là họ sẽ không chấp nhận bất cứ công thức nào mà sẽ để yên cho ‘’người thắng cử vẻ vang’’ tại chức.

Tuần rồi ông Rafsanjani từ chối tham dự một “cuộc giải hòa’’ do ông Ali Ardeshir Larijani tổ chức và đã được dư luận thổi phồng. Ông Larijani là phát ngôn nhân của quốc hội tạm thời của Iran. Lý do? Ông Rafsanjani không muốn bị công luận trông thấy đang ngồi chung với ông Ahmadinejad. Sau đó, trong một bài diễn văn ở Mash’had, ông Rafsanjani lên tiếng về ‘’cuộc khủng hoảng lâu dài, sâu xa có nguy cơ tác hại trầm trọng’’ của chế độ.

Đáng giá qua những khẩu hiệu tiêu biểu nhất của họ, những người đấu tranh khắp Iran đều đồng lòng muốn thay đổi chế độ. Ngay cả những tin đồn là chế độ đang tính chuyện hạ bệ ông Ahmadinejad – viện cớ là ‘’vì sức khỏe’’ – sau Tết Iran vào Tháng Ba, cũng không đủ để chận đứng sự loan truyền những ý tưởng cần phải thay đổi chế độ.

Biểu tình chống chính phủ tại Đại học Tehran ngày 9/12/2009

Trước tình hình quốc gia đó, các ông Mousavi và Karroubi đã bỏ cuộc mạn đàm của họ về ‘’nhận thức những tiềm lực lớn lao của hiến pháp hiện hành’’. Một người cố vấn của ông Mousavi bảo tôi rằng ‘’Họ muốn làm món trứng chiên mà không muốn đập vỡ trái trứng. Bây giờ họ mới biết rằng quần chúng đã tiến nhanh hơn họ tưởng.’’ Quan trọng hơn nữa, ông Mousavi dường như đã tạm gác lại cái kế hoạch của một “tổ chức xanh” khá mập mờ. ông ta bắt đầu hiểu ra rằng phong trào chống chính phủ quá to lớn và không thể đặt vào trong khuôn khổ kiểm soát của một cơ chế trung ương.

Trong sáu tháng qua, nhiều ngàn người đã bị bắt và mấy trăm người đã bị giết trên đường phố. Tuy nhiên, bất chấp lời dọa nạt của Tướng Jaafari là sẽ dẫm nát phong trào, nó vẫn tồn tại. Thiệt hại hơn nữa cho chế độ là việc các giáo sĩ Shiite, thường được coi như là cột xương sống của Cộng Hòa Hồi Giáo, đang bắt đầu lánh xa cặp Khamenei-Ahmadinejad. Một vài nhà truyền giáo, như các ông Montazeri, Bayat, San’ei, Borujerdi và Zanjani, đặc biệt khó chịu với lời tuyên bố của ông Ahmadinejad là ông ta đang tiếp xúc với ‘’Đấng Imam Ẩn Náu’’, tức nhà tiên tri của đạo Shiite mà lần xuất hiện thứ nhì được coi như tận thế.

Ông Ahmadinejad tuyên bố rằng sự ‘’trở lại’’ sắp xẩy ra và ông ta, như là một trong những ‘’cái chốt’’ do Đấng Imam Ẩn Náu tạo ra để chuẩn bị bối cảnh cho sự việc này, với nhiệm vụ đuổi ‘’Bọn Ngoại Đạo’’ ra khỏi đất Hồi Giáo và giải phóng Palestine khỏi ‘’bọn Do Thái xâm lược’’. Trong một bài diễn văn ở Isfahan tuần rồi, ông Ahmadinejad tuyên bố rằng phong trào dân chủ được Mỹ tạo ra để phá hoại sứ mạng của ông ta và vì vậy cản trở sự trở lại của ‘’Đấng Imam Ần Náu.’’

Một giáo sĩ cấp trung ở Qom than phiền với tôi:’’Cái kiểu Ahmadinejad nói, ông ta ắt hẳn phải là một người bịnh hoạn…Ủng hộ một người như vậy, Khamenei đã tiêu diệt một chế độ.’’

Cặp Ahmadinejad-Khamenei cũng đang bị công kích về sự bất tài của họ. Chế độ hiện giờ đang bị lạm phát ở mức hai con số, thất thoát kinh khủng về tài sản quốc gia, và mức độ thất nghiệp cao chưa từng có. Sự chia rẽ trong bè phái thống trị khiến Tổng Thống không thể lấp đầy những ghế quan trọng ở cấp trung trong chính phủ. Mất đi chỗ dựa quần chúng quá nhanh, chế độ ngày càng lệ thuộc vào lực lượng trấn áp, đặc biệt là loại dân phòng có tên Đạo Quân Cách Mạng Hồi Giáo.

Các chỉ huy của Đạo Quân Cách Mạng Hồi Giáo xuất hiện trên TV hầu như mỗi đêm, tự giới thiệu họ như những ‘’thiên thần bản mệnh của chế độ’’. Chính Tướng Jaafari nói rằng ông ta thán phục ‘’khuôn mẫu Turkey’’, trong đó quân đội là bức tường thành bảo vệ chế độ.

Tuy nhiên, ông Tướng này không còn nhiều thời gian để tính nước cờ kế tiếp. Phong trào dân chủ đang mọc sâu vào xã hội và phát triển. Nhiều nỗ lực đang được tiến hành để nối phong trào với các công đoàn độc lập và hàng trăm các hội đoàn chính thức và không chính thức khác, để thành một bộ phận đầu tàu dẫn dắt xã hội dân sự chiến đấu lại với những điều gian ác của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran đã tiến vào một giai đoạn lịch sử then chốt. Một điều chắc chắn là tình trạng như hiện nay không còn có thể duy trì được nữa.

Amir Taheri

CTM phỏng dịch

Nguồn: The Wall Street Journal


LS Trần Vũ Hải: Phạm Thanh Nghiên không phạm tội chống nhà nước

21/12/2009

Theo kế hoạch thì hôm nay – 17 tháng 12, phiên xử nhà bất đồng chính kiến Phạm Thanh Nghiên sẽ diễn ra ở Hải Phòng.

Tuy nhiên, đến giờ chót, chính luật sư tham gia bào chữa là LS Trần Vũ Hải, cho hay là ông được tòa án thông báo hoãn, dù rằng các luật sư tham gia bào chữa đã sẵn sàng cho việc biện hộ tại tòa.

Luận cứ bào chữa

Cô Phạm Thanh Nghiên bị cơ quan chức năng Việt Nam bắt giữ từ hồi tháng 9 năm ngoái với cáo buộc cô đã có những hoạt động tuyên truyền chống lại Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chũ nghĩa Việt Nam, theo điều 88 Bộ Luật hình sự. Một trong những hoạt động ngay trước khi bị bắt của Cô Phạm Thanh Nghiên là tọa kháng tại nhà phản đối việc chính quyền Hà Nội để mất hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về tay Trung Quốc. Đối với cáo buộc trong việc này đối với cô Phạm Thanh Nghiên thì LS Trần Vũ Hải lập luận:

LS Trần Vũ Hải

Đợt tọa kháng tại nhà của cô là để kêu gọi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, và phản đối công hàm năm 1957 của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng là ‘bán nước’. Về nội dung này chúng tôi có trao đổi với chị Nghiên nói rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một người đáng kính trọng. Công hàm 1957 do ông ký cần phải xem xét lại về vấn đề lịch sử, còn nói là ‘bán nước’ thì e rằng hơi cực đoan.

Chị Nghiên cũng đồng ý với tôi như vậy. Nhưng tôi cho rằng công hàm đó là một sai lầm lớn. Ai cũng có thể sai lầm, và nhìn lại thì năm 1957-58, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới lập lại hòa bình sau năm 1954 còn rất non trẻ. Công hàm đó tuy không khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc mà chỉ công nhận vùng lãnh hải 12 hải lý mà có liên quan đến một văn bản của Trung Quốc về định nghĩa các vùng hải đảo của họ có Hoàng Sa và Trường Sa; tuy không nói trực tiếp về điều đó nhưng hiện nay Trung Quốc thường xuyên xem công hàm này là một sự công nhận của Việt Nam và là một căn cứ quan trọng là nhà nước Việt Nam đã công nhận rồi.

Tôi nói với chị Nghiên đó không phải là một công văn ‘bán nước’ được nhưng là một sai lầm, sai lầm rất lớn. Cho đến nay Trung Quốc luôn lợi dụng văn bản đó để cho rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc đã được Việt Nam công nhận.

Ý kiến của chị Nghiên về điều này chỉ là một phê phán, phản đối dù từ dùng hơi cực đoan, không nên dùng.

Cô Phạm Thanh Nghiên cùng một thanh niên hoạt động dân chủ khác tại Việt Nam là anh Ngô Quỳnh, từng đến gia đình của những ngư dân Việt Nam tại Thanh Hóa có người thân bị phía Trung Quốc bắn chết khi đang đánh bắt trong Vịnh Bắc Bộ thuộc địa phận Việt Nam, để tìm hiểu thực tế việc chính quyền giúp đỡ họ qua khó khăn đó; tuy nhiên hoạt động này cũng bị xem là vi phạm. Luật sư Trần Vũ Hải trình bày về điểm này:

Cuộc đi tìm hiểu của chị Phạm Thanh Nghiên với anh Ngô Quỳnh đến Thanh Hóa tìm hiểu một số gia đình nạn nhân bị Trung Quốc bắn chết và đã thông tin lên mạng qua bài viết về tình cảnh của gia đình nạn nhân. Bài viết dựa trên cơ sở phỏng vấn những nạn nhân, nói về việc không cấp đủ cứu trợ cho các nạn nhân. Nói chung bài viết có phê phán cách này hay cách khác chính quyền địa phương tại Thanh Hóa.

Nay thì chính quyền địa phương cho rằng bài đó là một bài viết xuyên tạc; bởi vì những người mà chị phỏng vấn – trong đó có ông Nguyễn Văn Nghiêm, ông Lê Xuân Tính họ lại có phản đối là họ không nói như trong bài của chị Nghiên viết. Khi trao đổi với chị Nghiên thì chị khẳng định họ có nói nhưng do sức ép nào đó hai người phải rút lại lời của họ. Tòa án cũng mời hai người này làm nhân chứng. Tôi nói rằng trong trường hợp này nếu họ rút bỏ thì có thể xem xét là thông tin chưa chính xác, hoặc chưa thuyết phục; nhưng đó cũng không phải là chống nhà nước. Nếu cần thì đính chính hoặc xin lỗi.

Chứng cứ phạm tội?

Cơ quan chức năng Việt Nam khi tiến hành bắt cô Phạm Thanh Nghiên đã phát hiện trong máy tính cá nhân của lưu những bài viết của những vị lên tiếng cho dân chủ nhân quyền tại Việt Nam lâu nay như cố trung tướng Trần Độ, ông Nguyễn Thanh Giang… Cơ quan chức năng cũng vin vào đó để buộc tội cô Phạm Thanh Nghiên. Về điểm này thì LS Trần Vũ Hải bác lại:

Nhóm hành vi thứ ba là chị Nghiên có trữ một số tài liệu của một số nhà hoạt động nổi tiếng như ông Nguyễn Thanh Giang, ông cựu chiến binh Vũ Cao Quận, cố trung tướng Trần Độ- bài ‘Rồng Rắn’. Họ cho rằng đó là những tài liệu chống nhà nước. Phía Viện Kiểm sát cho rằng những tài liệu đó Bộ Văn Hóa- Thông tin cấm. Chúng tôi đã kiểm tra lại và thấy chỉ cấm lưu hành mà thôi, không thấy nói gì về vấn đề nội dung; không kết luận là những bài viết đó có nội dung chống nhà nước hay không. Có thể có phê phán; nếu những bài viết đó có nội dung chống nhà nước thì phải chăng các tác giả cũng phải chịu trách nhiệm; nhưng ở đây có ai yêu cầu chịu trách nhiệm về các tác phẩm ấy đâu! Viện Kiểm Sát trong cáo trạng cũng chưa nêu rõ các tác phẩm ấy chống nhà nước ở điểm gì? Tôi lập luận là có những tác phẩm của những nhà hoạt động nổi tiếng cũng không được lưu hành như hồi ký của ông Đoàn Duy Thành nhưng không ai có thể nói chống nhà nước XHCN được, có thể có phê phán nhưng không phải chống.

Bản thân cô Phạm Thanh Nghiên từng viết nhiều bài đưa lên mạng Internet và Viện Kiểm sát cũng cho rằng đó là những tài liệu chống chính quyền Hà Nội. Luật sư Trần Vũ Hải lập luận về điểm đó:

Những bài viết của chị trên mạng có chống nhà nước hay không? Chúng tôi có đọc kỹ nhưng chưa hết bởi vì bài viết của chị khá nhiều. Trong cáo trạng lần đầu thì cơ quan điều tra cho rằng có nhiều bài viết của chị ‘chống’; nhưng sau này họ có lượt bớt một số. Tôi đọc thì thấy một số chỉ là tài liệu cá nhân, viết thư trao đổi lẫn nhau, viết lên tình cảm của mình … Tất cả chỉ nói ý kiến chứ không tuyên truyền. Có thể có phê phán về góc này kia nhưng khó có thể nói chống nhà nước.

Tóm lại theo tôi thì những nhóm hành vi của chị không thể qui kết vào vi phạm các điều của Điều 88, Bộ luật hình sự Việt Nam.

Trong thực tế thì hầu như tất cả những vụ xử án các nhà đấu tranh cho dân chủ- nhân quyền tại Việt Nam đều được quyết định từ trước, và chữ để gọi cho hình thức này trong nước gọi là ‘án bỏ túi’. Giới quan sát cho rằng phần tranh luận tại tòa giữa luật sư bào chữa và phía công tố chỉ là hình thức.

Gia Minh, phóng viên RFA
17-12-2009


Hải quân Việt Nam đã học được những gì?

19/12/2009

Tuần trước, Trung Quốc đã đuổi bắt ba tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam, khi họ đang đánh bắt cá ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, thuộc chủ quyền của Việt Nam. Sau đó, phía Trung Quốc đã tịch thu toàn bộ ngư cụ và hai con tàu, rồi dồn 43 ngư dân lên con tàu thứ ba, đuổi ra biển…

Tuần này, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm, yêu cầu Trung Quốc trả lại hai tàu đánh cá, toàn bộ ngư cụ, cũng như tài sản cá nhân mà phía Trung Quốc đã cưỡng đoạt của ngư dân Việt Nam. Đồng thời đòi Trung Quốc chấm dứt ngay hành động bắt giữ ngư dân Việt Nam trên biển Đông.

Đây chỉ là một sự kiện trong chuỗi sự kiện liên quan đến chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông. Chuỗi sự kiện đó còn có gì khác đáng quan tâm? Mời quý vị nghe Trân Văn tổng hợp và tường trình…

Không có gì quý hơn tình hữu nghị

Bà Nguyễn Phương Nga, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam vừa lên tiếng xác định, việc Trung Quốc săn đuổi, bắt giữ tàu đánh cá, cưỡng đoạt ngư cụ, tài sản của ngư dân Việt Nam, khi họ đang hành nghề trên biển Đông hồi tuần trước là hành động sai trái, xâm phạm chủ quyền Việt Nam, ngược với tinh thần hữu nghị, gây phương hại đến cuộc sống và tài sản của ngư dân Việt Nam.

Hình như đây là lần đầu tiên, chính quyền Việt Nam chính thức bày tỏ “sự quan ngại trước việc Trung Quốc nhiều lần bắt giữ tàu và người đánh cá Việt Nam đang hoạt động một cách bình thường trên vùng đảo và vùng biển thuộc hải phận Việt Nam”.

Trước đây, dẫu cho chuyện Trung Quốc bắt giữ, cưỡng đoạt ngư cụ, tài sản cá nhân, tịch thu tàu, đánh đập, thậm chí giam giữ ngư dân, buộc thân nhân họ nộp tiền chuộc,… xảy ra thường xuyên, song chính quyền Việt Nam phản ứng khá nhẹ nhàng, ôn hoà, đôi lúc còn khiến nhiều người cảm thấy khó hiểu.

Chẳng hạn, theo báo điện tử VietNamNet, chỉ trong sáu tháng đầu năm nay, riêng huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã có sáu tàu đánh cá bị phía Trung Quốc bắt giữ cả tàu lẫn người. Khoan tính các yếu tố như thiện chí, sự tôn trọng, cũng như khoan tính tổng thiệt hại về tài sản mà Trung Quốc đã gây ra cho ngư dân Việt Nam, chỉ riêng số tiền mà phía Trung Quốc đòi gia đình của các ngư dân phải nộp để chuộc những thân nhân bị Trung Quốc tạm giam, thì khoản này đã vượt quá một tỷ đồng.

Tuy điều đó đã đẩy nhiều gia đình đến chỗ sạt nghiệp song trong bối cảnh như thế, hồi giữa tháng 9, trả lời Đài phát thanh Quốc tế của Trung Quốc, ông Đoàn Xuân Hưng, Thứ trưởng Ngoại giao của Việt Nam vẫn tuyên bố, quan hệ giữa Việt Nam – Trung Quốc đang ở giai đoạn tốt đẹp nhất trong lịch sử quan hệ Việt Trung!

Cuối tháng 9, dư luận lại tiếp tục xôn xao trước sự kiện 17 chiếc tàu đánh cá của ngư dân Quảng Ngãi bị lực lượng vũ trang Trung Quốc ngăn cản, không cho tạt vào quần đảo Hoàng Sa tránh bão số 9, rồi sau khi được tạm trú, họ bị lực lượng vũ trang của Trung Quốc đánh đập, tài sản phần thì bị hủy hoại, phần khác bị cướp,… Và vài ngày sau, nhân dịp 60 năm Quốc khách Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, người ta thấy lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam gửi “Điện mừng” lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ Trung Quốc.

Điện mừng có đoạn viết thế này: Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Việt Nam hết sức quý trọng và luôn luôn mong muốn phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác hữu nghị với Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc anh em, sẽ làm hết sức mình cùng với phía Trung Quốc không ngừng vun đắp cho nhân dân hai nước Việt – Trung đời đời hữu nghị với nhau, đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước ngày càng phát triển vì sự phồn vinh của mỗi nước, vì lợi ích của nhân dân hai nước cũng như vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.

Cần Trung Quốc “tạo điều kiện” để “thực thi nhiệm vụ”?

Mới đây, hôm 4 tháng 12, tờ Quân đội nhân dân Việt Nam loan báo, từ sáng 2 tháng 12 đến trưa ngày 3 tháng 12, hai chiến hạm mang số hiệu 755 và 756 của Hải quân Trung Quốc đã cùng hai chiến hạm mang số hiệu 261 và 263 của Việt Nam, tuần tra 500 hải lý trên biển Đông.

Tờ Quân đội nhân dân đã dẫn nguyên văn ý kiến của một đại uý tên Hoàng Văn Minh, hạm trưởng chiến hạm 623, thuộc Hải quân Việt Nam, kể về đợt tuần tra chung: Trong đợt tuần tra chung này, phía Hải quân Trung Quốc đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để Hải quân Việt Nam thực thi nhiệm vụ.

Tờ báo này còn dẫn thêm một nhận xét khác của đại uý Minh: Đây cũng là dịp để hai bên học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, góp phần giữ vững bình yên trên tuyến biển, tạo điều kiện cho ngư dân hai nước làm ăn hợp pháp cũng như giải quyết kịp thời, giúp đỡ lẫn nhau mỗi khi gặp bão lũ hoặc gặp sự cố trên biển.

Sau đợt tuần tra vừa kể, hai chiến hạm của hải quân Trung Quốc đã ghé cảng Hải Phòng để “thăm và làm việc với bộ đội Hải quân Việt Nam”. Tờ Quân đội nhân dân cho biết, đại diện hai chiến hạm của Hải quân Trung Quốc còn đi “chào xã giao UBND thành phố Hải Phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 3, Bộ Tư lệnh Hải quân, thi đấu các môn thể thao, giao lưu văn nghệ…”

Sau khi tường thuật về sự kiện Hải quân Trung Quốc phối hợp với Hải quân Việt Nam cùng tuần tra trên biển Đông và ghé thăm Hải Phòng, tờ Quân đội nhân dân – cơ quan ngôn luận của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng Việt Nam nhận xét: Tuy chỉ là đợt giao lưu học hỏi kinh nghiệm nhưng đã để lại nhiều tình cảm lưu luyến giữa lực lượng hải quân hai nước trong việc hợp tác tuần tra chung trên biển, giữ vững sự bình yên trên tuyến biển đảo hai nước.

Không bảo vệ đồng bào vì “tình cảm lưu luyến”?

Theo tờ Quân đội nhân dân, đoàn hải quân Trung Quốc lên tàu về nước vào ngày 7 tháng 12.

Ngay tối hôm đó, tàu Ngư chính của Trung Quốc bắt đầu một đợt rượt bắt tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam trên biển Đông. Đợt rượt bắt này kéo dài từ tối ngày 7 sang ngày 8 tháng 12. Ba tàu đánh cá và 43 ngư dân Việt Nam đã bị bắt giữ ngay trên vùng biển thuộc chủ quyền của xứ sở mình.

Đây là một đoạn trong cuộc đối thoại giữa phóng viên Việt Hà của Đài Á Châu Tự do với ông Dương Lúc, thuyền trưởng tàu đánh cá mang số hiệu QNg 96024 TS – con tàu đầu tiên bị bắt trong đợt săn đuổi mới nhất, diễn ra vào tối 7 tháng 12, sau khi đoàn hải quân Trung Quốc đã lên tàu về nước của họ:

Việt Hà: Hôm bị bắt anh có nhìn thấy tàu hải quân Việt Nam không?

Ông Dương Lúa: Không! Không!

Việt Hà: Lúc chạy anh có điện về không?

Ông Dương Lúa: Không! Chạy thì mình lo xếp đồ mình cất hết rồi. Mình sợ người ta lấy đồ…

Việt Hà: Từ ngày anh đánh cá trên biển đến giờ, có bao giờ anh nhìn thấy tàu kiểm ngư Việt Nam, tàu hải quân Việt Nam hoặc là bất kỳ gì khác đi kiểm tra, bảo vệ cho ngư dân Việt Nam chưa ạ?

Ông Dương Lúa: Chưa!

Với thực tế như nhiều người đã biết, cần phải có thêm bao nhiêu cuộc tuần tra chung thì Hải quân Trung Quốc mới “tạo mọi điều kiện tốt nhất để Hải quân Việt Nam thực thi nhiệm vụ” của họ thường xuyên trên biển Đông, như đại uý Hoàng Văn Minh kể với tờ Quân đội nhân dân?

Và có phải “tình cảm lưu luyến” từ những cuộc “giao lưu học hỏi kinh nghiệm” như đợt tuần tra chung mà tờ Quân đội nhân dân mô tả, nên Hải quân Việt Nam chưa thể “giữ vững sự bình yên trên tuyến biển đảo hai nước”?

Trân Văn, phóng viên FRA 2009-12-17