Đi Tìm Mùa Xuân Cho Dân Tộc

“Bao năm khổ đau đất nước ta không mùa xuân”
“Cuộc đời tăm tối, chốn lao tù bao hờn căm”

Trên đây là hai câu trong bài hát “Đảng đã cho ta một mùa xuân” của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Đảng ở đây là đảng Cộng Sản Việt Nam và câu “bao năm khổ đau…” trong bài hát này tác giả nói về những năm đất nước dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, nhưng cũng hoàn toàn đúng với thực trạng của đất nước kể từ khi Việt Nam bị đảng này cai trị…

Nhạc sĩ Phạm Tuyên là con của học giả Phạm Quỳnh, một nhà văn hóa, người được coi là đi tiên phong trong việc dùng tiếng Việt để viết lý luận, đồng thời cũng là người đấu tranh bất bạo động, nhưng không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập, tự trị của Việt Nam, chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến. Ông Phạm Quỳnh bị Cộng Sản Việt Nam bắt giam và giết ngay sau khi họ nắm chính quyền. Hơn nửa thế kỷ sau đảng Cộng Sản Việt Nam mới đánh giá học giả Phạm Quỳnh là người có tinh thần dân tộc, ôm ấp một chủ nghĩa quốc gia theo xu hướng ôn hòa, lấy việc canh tân văn hóa để làm sống lại hồn nước… Khi viết bài hát “Đảng đã cho ta một mùa xuân” vào năm 1960, nhạc sĩ Phạm Tuyên cho rằng, ông đã thực sự bị ảnh hưởng bởi ca khúc “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” ra đời năm 1959, và câu nói của một triết gia (nào đó): “Chủ nghĩa cộng sản là mùa xuân của nhân loại”; từ đó đã thúc đẩy ông viết lên bài hát ca ngợi cái đảng đã giết cha của ông và vừa mới thực hiện xong cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu và trù giệt giới văn nghệ, sĩ trí thức “nhân Văn Gia Phẩm”.

Câu chuyện của nhạc sĩ Phạm Tuyên và bài hát nịnh bợ của ông chỉ là chuyện của một cá nhân, mà có thể là do phải “nín thở qua sông”, ông ta đã phải nịnh bợ một cách trơ trẽn và thậm chí phản lại đạo lý làm người như vậy. Nhạc Sĩ Tô Hải đã nhận định rằng có nhiều người phải “viết trái ngược với bộ óc và trái tim mình để tồn tại, thậm chí ca ngợi cả những kẻ đã giết bố mình là “đã cho mình một mùa xuân” là đã làm mình “sáng mắt sáng lòng!”. Nhưng đó không phải là trường hợp cá biệt, ngược lại, đó là nét chung về sự nghịch lý của cả một dân tộc dưới sự đè nén của đảng cộng sản Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ qua. Trong sự nghịch lý đó, ngôn ngữ Việt nam tuy phong phú, nhưng có lẽ khó có từ ngữ nào để diễn tả đầy đủ được những đau thương, tang tóc, đổ vỡ cho dân tộc Việt Nam trong một đại nạn, thảm kịch chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc.

Trong hoàn cảnh như vậy, đã có nhiều người nhận ra rằng, bao năm dưới sự cai trị độc tài, độc tôn của đảng cộng sản Việt Nam thì đó chính là “Bao năm khổ đau đất nước ta không mùa xuân. Cuộc đời tăm tối, chốn lao tù bao hờn căm”. Từ đó, bằng cách này hay cách khác họ đã quyết tâm đi tìm lại mùa xuân thực sự cho dân tộc. Trước đây, khi sự thông tin còn bị khó khăn hạn chế, người ta khó biết được là đã có bao nhiêu người quyết tâm đi tìm lại mùa xuân cho dân tộc đã bị đảng Cộng Sản Việt Nam trả thù bằng giam cầm, bách hại… Có thể hàng ngàn, hàng vạn người đã gục ngã cô đơn, âm thầm trong bóng đêm của tù ngục cộng sản. Nhưng sự trả thù hèn hạ của chế độ bằng lao tù nghiệt ngã đã không dập tắt được ý chí kiên cường, lòng bất khuất của những người đi tìm tương lai tươi sáng cho dân tộc. Hết lớp người này bị giam cầm thì lớp người khác tiếp nối. Ngục tù chỉ khiến ý chí và quyết tâm của họ cao hơn; vì họ biết bằng, chỉ khi nào phá tung được cùm gông xiềng xích của chế độc độc tài, phản dân chủ trên dân tộc, thì lúc đó đất nước ta mới có mùa xuân. Trong những năm gần đây, nhờ tiến bộ của tin học, cả thế giới đều biết rằng, qua những phiên toà bất công, ngang ngược, chà đạp công lý, chế độ cộng sản Việt Nam đang giam cầm ít nhất 32 nhà yêu nước 134 năm tù và gần 90 năm quản chế (không kể quản chế vô hạn định). Những nhà yêu nước đó là:

– Hòa thượng Thích Quảng Độ, tù quản chế vô hạn định

– Ông Phạm Văn Trội, 4 năm tù giam, thêm 4 năm tù quản chế

– Ông Trần Đức Thạch, 3 năm tù giam, thêm 3 năm tù quản chế

– Ông Vũ Văn Hùng, 3 năm tù giam, thêm 3 năm tù quản chế

– Ông Nguyễn Xuân Nghĩa, 6 năm tù giam, thêm 3 năm tù quản chế

– Ông Ngô Quỳnh, 3 năm tù giam, thêm 3 năm tù quản chế

– Ông Nguyễn Văn Túc, 4 năm tù giam, thêm 3 năm tù quản chế

– Ông Nguyễn Mạnh Sơn, 3 năm và 6 tháng tù giam, thêm 3 năm tù quản chế

– Ông Nguyễn Văn Tính, 3 năm và 6 tháng tù giam, thêm 3 năm tù quản chế

– Ông Nguyễn Kim Nhàn, 2 năm tù giam, thêm 2 năm tù quản chế

– Ông Trần Anh Kim, 5 năm và 6 tháng tù giam, thêm 3 năm tù quản chế

– Ông Trần Huỳnh Duy Thức, 16 năm tù giam, thêm 5 năm tù quản chế

– Ông Nguyễn Tiến Trung, 7 năm tù giam, thêm 3 năm tù quản chế

– Ông Lê Công Định, 5 năm tù giam, thêm 3 năm tù quản chế

– Ông Lê Thăng Long, 5 năm tù giam, thêm 3 năm tù quản chế

– Cô Phạm Thanh Nghiên, 4 năm tù giam, thêm 3 năm tù quản chế

– Bà Trần Khải Thanh Thủy, 3 năm và 6 tháng tù giam

– Ông Đỗ Bá Tân, 2 năm tù treo, thêm 3 năm và 11 tháng tù quản chế.

– Linh mục Nguyễn Văn Lý, 8 năm tù giam, thêm 5 năm tù quản chế

– Ông Nguyễn Phong, 6 năm tù giam, thêm 3 năm tù quản chế

– Ông Nguyễn Bình Thành, 5 năm tù giam, thêm 2 năm tù quản chế

– Ông Lê Nguyên Sang, 4 năm tù giam

– Ông Nguyễn Bắc Truyển, 3 năm tù giam

– Cô Lê Thị Công Nhân, 3 năm tù giam, thêm 3 năm tù quản chế

– Ông Nguyễn Văn Đài, 4 năm tù giam, thêm 4 năm tù quản chế

– Ông Nguyễn Văn Hải (Điếu Cầy), 2 năm và 6 tháng tù giam

– Ông Nguyễn Văn Hải, 2 năm tù treo

– Ông Trần Quốc Hiền 5 năm tù giam, thêm 2 năm tù quản chế

– Ông Trương Minh Đức, 5 năm tù giam

– Ông Trương Quốc Huy, 6 năm tù giam, thêm 3 năm tù quản chế

– Ông Nguyễn Ngọc Quang, 5 năm tù giam, thêm 2 năm tù quản chế.

– Ông Phạm Bá Hải, 3 năm tù giam, thêm 2 năm tù quản chế.

Những nhà yêu nước trên đây thừa biết rằng, họ có đầy đủ khả năng và điều kiện để sống yên bình, sung túc, nếu họ nhắm mắt làm ngơ những thảm cảnh của dân tộc. Bên cạnh đó, họ cũng ý thức được rằng, khi dấn thân vào con đường đấu tranh để đòi lại tự do dân chủ để bảo vệ lãnh thổ lãnh hải, để chống bất công áp bức,… chắc chắn họ sẽ phải đối diện với trù dập, tù đày. Nhưng họ vẫn chấp nhận ngồi tù vì đất nước, vì dân tộc. Vì họ biết rằng, con đường đi vào nhà tù nhỏ của họ chính là con đường để dân tộc thoát ra khỏi nhà tù lớn của chế độ.

Rõ ràng những nhà yêu nước trên đã vào tù trong ý thức rằng, những hy sinh của họ chỉ là những thiệt thòi cá nhân nhỏ bé, so với sự mất mát của cả dân tộc và đất nước đang phải hứng chịu. Họ vào tù để đánh thức cả dân tộc về hiểm hoạ ngoại xâm với sự tiếp tay đồng lõa của những kẻ đang cầm quyền. Giòng máu Việt Nam, tinh thần Việt Nam trong con người của họ không cho phép họ an nhiên nhìn tổ quốc Việt Nam, mảnh đất đã bao phen thấm máu của tổ tiên Việt, dần dần bị thiểu số lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam dâng hiến cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.

Những nhà yêu nước sẵn sàng ngồi tù bởi vì họ muốn chấm dứt sự băng hoại xã hội, những khổ đau của đồng bào do cơ chế độc tài sinh ra và cơ chế đó không có khả năng chấm dứt. Hơn thế nữa, chính chế độ độc tài cũng dựa vào sự băng hoại, khổ đau đó để tồn tại. Mười sáu năm trước, nhà báo Bút Bi của báo Tuổi Trẻ đã cảnh giác rằng, lịch sử nhân loại đã có nhiều dân tộc bị xoá sổ vì băng hoại xã hội. Nguy cơ mà nhà báo Bút Bi vừa đề cập đã ngày càng hiển hiện đối với dân tộc Việt Nam dưới sự cai trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Vì vậy, sự đấu tranh của những nhà yêu nước đang ngồi tù chính là con đường để chấm dứt nguy cơ này.

Tóm lại, cho đến khi nào Cộng Sản Việt Nam còn ngồi trên đầu trên cổ dân tộc Việt Nam thì lúc đó vẫn là “bao năm khổ đau đất nước ta không mùa xuân. Cuộc đời tăm tối [của cả dân tộc] chốn lao tù bao hờn căm”, thì vẫn còn có những lớp người sẵn sàng ngồi tù để tìm lại mùa xuân đích thực cho dân tộc, như 32 nhà yêu nước đang phải chịu đựng. Trong ngục tù tăm tối nhưng những nhà yêu nước trên không hề cô đơn. Bên cạnh sự chia sẻ đồng cảm của gia đình họ, bao nhiêu người khác vẫn đang tiếp nối con đường của họ bằng cách này hay cách khác, trong tầm tay của mỗi người. Từ những cảnh giác vừa qua về hình thức bán đất hại dân dưới hình thức mới, bằng cách cho ngoại bang thuê đất đầu nguồn của hai vị cửu tướng Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh; đến những chia sẻ tâm tư của nhạc sĩ Tô Hải khi “thấy Đảng sai, thậm chí có tội với lịch sử”; hoặc, như bạn trẻ Lê Nguyễn Huy Trần “Dù thất vọng và uất giận nhưng tôi vẫn phải tiếp tục lên tiếng, tiếp tục gào thét cho đến hơi thở cuối cùng. Nếu không thì tôi cũng như những kẻ vô tâm khác, có lỗi với chính mình, với chính dòng sữa đã nuôi lớn tôi, có lỗi với quê hương, với dân tộc Việt Nam”; hoặc một cách cụ thể hơn, dán và rải truyền đơn kêu gọi ý thức của nhân dân, quân đội,… khắp trên 3 miền đất nước Nam, Trung, Bắc như Đảng Dân Chủ Nhân Dân, Phong Trào Lao Động Việt, Tập Hợp Vì Công Lý, Đảng Việt Tân phối hợp thực hiện trong những ngày cuối năm vừa qua.

Lịch sử dân tộc nào cũng có những ngôi sao sáng trong những đêm tối đen nhất của đất nước. Những nhà yêu nước đang ngồi tù để tìm lại mùa xuân cho dân tộc chính là những ngôi sao sáng đó của đêm đen Việt Nam hiện nay. Họ là biểu hiện của hy vọng, của niềm tin, của lương tâm và của tình người Việt Nam.

Lê Vĩnh

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: